vanban.org

Bản án 02/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre Tuyên án 29/01/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Âu Gia T-Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

T

N N N N

C NG

C NG

V T N M

U N C

C

- T do - nh h

T NH B N TR ____________________________________ Bản án số: 02/2019/HS - ST

Ngày 29 - 01 - 2019

N N N

NƯỚC C NG OÀ

C NG

V T NAM

TOÀ N N N N U N C , TỈN BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ t a phiên tòa: Ông Lê Văn Phận.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Thúy Phượng.

2. Ông Nguyễn Văn Hơn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Ng c Tú - Thư ký Tòa án nhân dân huyện CL, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CL, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Phước - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CL, tỉnh Bến Tre, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2019/TLST - HS ngày 08 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2019/QĐXXST - HS ngày 09 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:

u Gia T (N) - Sinh năm: 1996.

Nơi sinh: huyện CL, tỉnh Bến Tre.

Nơi cư trú: ấp SQ, thị trấn CL, huyện CL, tỉnh Bến Tre.

Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ h c vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam.

Con bà Âu Thị L, h tên cha (không rõ).

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 15/5/2017 bị Tòa án nhân dân huyện CL, tỉnh Bến Tre áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng, đã chấp hành xong ngày 13/9/2018.

Bị bắt ngày 29/10/2018 và chuyển tạm giam cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Âu Thị L - Sinh năm: 1968; nơi cư trú: ấp SQ, thị trấn CL, huyện CL, tỉnh Bến Tre (vắng măt).

N

UNG VỤ N:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 50 phút, đêm 28 rạng sáng ngày 29/10/2018, trên tuyến đường nội ô thuộc khu phố 1, thị trấn Chợ Lách, huyện CL, tỉnh Bến Tre, lực lượng Cảnh sát giao thông phát hiện Âu Gia T không đội mũ bảo hiểm nên kiểm tra hành chính.

Quá trình làm việc, phát hiện bên trong gói thuốc lá nhãn hiệu Jet Tuấn mang trong người có một gói nylon màu trắng, có hoa văn màu đỏ, không rõ hình dạng, bên trong có một gói nylon có chứa ma túy tổng hợp dạng đá.

Tuấn khai mua ma túy vào ngày 26/10/2018, tại khu vực cầu Hàm Luông thuộc địa phận xã Bình Phú, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Mua của một người tên T(không rõ nhân thân, lai lịch) với giá 1.500.000đồng. Mua với mục đích sử dụng.

Tại Kết luận số: 23/2018/GĐMT ngày 29/10/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bến Tre kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamin, khối lượng: 2,0435 gam (sau khi giám định còn 1,9099 gam).

Tại bản cáo trạng số: 03/CT - VKSCL ngày 04/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện CL, tỉnh Bến Tre đã quyết định truy tố bị cáo Âu Gia T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy:

01 (một) phong bì niêm phong bên trong có 1,9099 gam ma túy (sau khi đã giám định), loại Methamphetamine do Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bến Tre hoàn trả, có đóng dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bến Tre; 01 (một) vỏ hộp gói thuốc nhãn hiệu Jet bên trong có: 01 (một) ống nhựa màu xanh; 01 (một) gói nylon bên trong có 21 (hai mươi mốt) cây bông tăm; 02 (hai) đầu ống hút; 01 (một) vật không rõ hình dạng gồm nhựa và kim loại; 01 (một) vỏ gói thuốc Jet bên trong có 16 (mười sáu) điếu thuốc lá nhãn hiệu Jet; 01 (một) hột quẹt gas màu xanh và 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng.

Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận việc cơ quan Cảnh sát Điều tra, Công an huyện CL đã trao trả cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động cảm ứng; số tiền 304.000 đồng (ba trăm lẽ bốn nghìn đồng); 01 (một) con dao xếp và 01 (một) giấy đăng ký mô tô xe máy.

N ẬN ỊN C T

N:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện CL, của Viện kiểm sát nhân dân huyện CL, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là phù hợp.

[2] Về nội dung vụ án: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên ngày 26/10/2018, tại khu vực cầu Hàm Luông thuộc địa phận xã BP, thành phố BT, tỉnh Bến Tre, bị cáo mua của một người tên T(không rõ nhân thân, lai lịch) 01 gói ma túy với giá 1.500.000 đồng.

Sau khi mua và sử dụng ma túy được 02 lần thì bị cáo cất số ma túy còn lại trong người. Đến khoảng 23 giờ 50 phút đêm 28 rạng sáng ngày 29/10/2018 thì bị lực lượng chức năng phát hiện.

Tại Kết luận số: 23/2018/GĐMT ngày 29/10/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bến Tre kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamin, khối lượng: 2,0435 gam (sau khi giám định còn 1,9099 gam).

Mặc dù bị cáo cho rằng việc bị cáo mua ma túy là để sử dụng chứ không nhằm mục đích mua bán nhưng khối lượng ma túy mà bị cáo mua và tàng trữ về tr ng lượng và chủng loại là thuộc doanh mục cấm và có số lượng nhiều, được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Do vậy, việc truy tố bị cáo ra xét xử tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét thấy, bị cáo là người có năng lực nhận thức và điều khiển hành vi. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Việc bị cáo sử dụng cũng như tàng trữ trái phép chất ma túy là gây khó khăn cho việc quản lý của cơ quan chức năng, gây mất an ninh tật tự tại địa phương nơi bị cáo phạm tội, cư trú. Đồng thời tiềm ẩn nguy cơ phát sinh tôi phạm và các tệ nạn xã hội khác.

[3] Về nhân thân: Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có nhân thân xấu, ngày 15/5/2017 bị Tòa án nhân dân huyện CL, tỉnh Bến Tre áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng, đã chấp hành xong ngày 13/9/2018. Tính đến thời điểm phạm tội thì bị cáo chưa được xóa tiền sự. Từ đó cho thấy ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo là không cao. Do vậy, cần có hình phạt thật nghiêm bằng hình thức cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian thì mới đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo và góp phần ngăn ngừa loại tội phạm này về sau.

Trong lượng hình, hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải. Do vậy, cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để làm căn cứ giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[4] Về xử lý vật chứng: Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên được chấp nhận.

[5] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QU ẾT ỊN :

1. Tuyên bố bị cáo Âu Gia T (N) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo 02 (hai) tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt (ngày 29/10/2018).

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Ghi nhận việc cơ quan Cảnh sát Điều tra, Công an huyện CL đã trao trả cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động cảm ứng, số tiền 304.000đồng; 01 (một) con dao xếp và 01 (một) giấy đăng ký mô tô xe máy.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có 1,9099 gam ma túy (sau khi đã giám định), 01 (một) vỏ hộp gói thuốc nhãn hiệu Jet bên trong có 01 (một) ống nhựa màu xanh, 01 (một) gói nylon bên trong có 21 (hai mươi mốt) cây bông tăm, 02 (hai) đầu ống hút, 01 (một) vật không rõ hình dạng gồm nhựa và kim loại, 01 (một) vỏ gói thuốc Jet bên trong có 16 (mười sáu) điếu thuốc lá nhãn hiệu Jet, 01 (một) hột quẹt gas màu xanh và 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng.

Các vật chứng này đã được chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện CL theo biên bản bàn giao ngày 07 tháng 01 năm 2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện CL và Chi cục Thi hành án dân sự huyện CL, tỉnh Bến Tre).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo nộp 200.000đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ