vanban.org

Bản án 02/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N đối với anh Nguyễn Huy Q chị Lã Thị G bà Trần Thị T chị Nguyễn Thị S.

Buộc anh Nguyễn Huy Q chị Lã Thị G bà Trần Thị T chị Nguyễn Thị S phải trả cho chị N số tiền còn nợ 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng). Chị Nguyễn Thị N không yêu cầu anh Q chị G bà T chị S phải trả lãi đối với khoản tiền vay là 200.000.000 đồng và không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với cam kết… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản."
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N đối với anh Nguyễn Huy Q chị Lã Thị G bà Trần Thị T chị Nguyễn Thị S.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật T ố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Ý YÊN
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02 /2019/DS-ST
Ngày: 16/9/2019
V/v : Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Tâm

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trương Thị Dung

Ông Nguyễn Trọng Tảo

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.

Ngày 16 tháng 9 năm 2019, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Ý Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 10/2019/TLST - DS ngày 01 tháng 4 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2019/QĐXXST-DS, ngày 30 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: - Chị Phạm Thị N - Sinh năm 1979

Địa chỉ: Thôn Thanh Bình xã Yên thọ huyện Ý Yên tỉnh Nam Định.

Bị đơn: - Anh Nguyễn Huy Q - Sinh năm 1982

- Chị Lã Thị G – Sinh năm 1985

- Bà Trần Thị T - Sinh năm 1939

Cùng địa chỉ: Thôn Minh Sơn xã Yên Chính huyện Ý Yên tỉnh Nam Định.

- Chị Nguyễn Thị S - Sinh năm 1989

Địa chỉ: Thôn Nguyệt Thượng xã Yên Tân huyện Ý Yên tỉnh Nam Định.

Đại diện theo ủy quyền của bà T và chị S là chị Lã Thị G.

Tại phiên tòa có mặt chị G.Vắng mặt anh Q, bà T, chị S, chị N (chị N có đơn xin được giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình làm việc với Tòa án, nguyên đơn trình bày:

Ngày 28/9/2016 chị có cho gia đình anh Q gồm: anh Q, chị G, bà T, chị S vay số tiền là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) lãi suất 0%. Thời hạn vay 02 năm từ ngày 28/9/2016 đến 28/9/2018. Hai bên đã làm bản cam kết có xác nhận của UBND xã Yên Chính nếu quá thời hạn trên gia đình anh Q, chị G, bà T, chị S không trả được số tiền đã vay thì toàn bộ diện tích đất hai lúa là 1803 m2 đất thuộc thửa đất số 41 tờ bản đồ số 12 bản đồ địa chính xã Yên Chính lập năm 1994 sẽ thuộc quyền sở hữu của chị. Quá thời hạn trên chị đã đi đòi nhiều lần nhưng anh Q chị G bà T chị S cố tình không trả. Nay chị đề nghị Tòa án giải quyết buộc anh Q chị G bà T chị S phải trả lại cho chị số tiền đã vay là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng), chị không yêu cầu lãi. Còn việc cam kết về chuyển giao diện tích đất 1803 m2 thửa đất số 41 tờ bản đồ số 12 tại thôn Ninh Sơn xã Yên Chính huyện Ý Yên tỉnh Nam Định chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau khi Tòa án giải quyết xong mà anh Q, chị G, bà T, chị S không trả thì chị sẽ yêu cầu cơ quan pháp luật giải quyết sau.

Tại bản tự khai và tại phiên hòa giải chị Lã Thị G trình bày:

Ngày 28/9/2016 gia đình chị gồm: anh Q, chị, bà T, chị S có vay của chị N số tiền là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) lãi suất 0%/tháng. Thời hạn vay 02 năm từ ngày 28/9/2016 đến 28/9/2018. Hai bên đã làm bản cam kết có xác nhận của UBND xã Yên Chính nếu quá thời hạn trên gia đình chị không trả được số tiền đã vay cho chị N thì toàn bộ diện tích đất hai lúa là 1803 m2 và các tài sản trên đất tại thửa đất số 41 tờ bản đồ số 12 bản đồ địa chính xã Yên Chính lập năm 1994 ở thôn Ninh Sơn xã Yên Chính huyện Ý Yên tỉnh Nam Định sẽ được chuyển giao cho chị N. Nhưng so làm ăn thua lỗ, hiện nay anh Q đi làm ăn ở đâu chị cũng không biết, một mình chị phải nuôi mẹ già, con nhở nên chị không thể trả ngay số nợ trên cho chị N được. Nay chị thừa nhận còn nợ của chị N số tiền là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng), chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết về đất và tài sản trên đất như hai bên đã thỏa thuận chị nhất trí. Về số tiền này chị xin trả dần mỗi năm 50.000.000 đồng cho đến hết số nợ trên.

Tại phiên tòa: Các bên đương sự vẫn giữ nguyên quan điểm của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ tranh chấp: Chị Nguyễn Thị N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc gia đình anh Q gồm: Anh Q, chị G, bà T, chị S phải trả số tiền đã vay là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng), nên đây là quan hệ "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn hiện đang cư trú tại huyện Ý Yên tỉnh Nam Định nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ý Yên theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về sự có mặt của các đương sự tại phiên tòa:

Anh Nguyễn Huy Q, không có mặt tại địa phương, chị Lã Thị G là vợ xác nhận gia đình không biết địa chỉ của anh Q ở đâu, Tòa án đã tiến hành thủ tục niêm yết theo quy định tại Điều 177 và 179 của Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các chứng cứ tài liệu mà nguyên đơn cung cấp, Hội đồng xét xử thấy rằng: Ngày 28/9/2016 chị Nguyễn Thị N đã cho gia đình anh Q gồm: Anh Q, chị G, bà T, chị S vay số tiền là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) lãi suất 0%. Thời hạn vay 02 năm từ ngày 28/9/2016 đến 28/9/2018. Hai bên đã làm bản cam kết có xác nhận của UBND xã Yên Chính. Tại các bản tự khai nộp cho Tòa án, chị Lã Thị G thừa nhận còn nợ của chị N số tiền là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) đúng như chị N đã trình bày, lời khai của chị G phù hợp với chứng cứ, tài liệu mà nguyên đơn cung cấp Như vậy HĐXX xét thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N, buộc vợ chồng chị G anh Q, bà T chị S phải trả cho chị N số tiền là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) là phù hợp với quy định tại các Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015.

Chị Nguyễn Thị N không yêu cầu anh Q chị G bà T chị S phải trả lãi đối với khoản tiền vay và không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với cam kết về việc chuyển giao toàn bộ diện tích đất hai lúa 1803 m2 cùng các tài sản trên đất tại thửa đất số 41 tờ bản đồ số 12 bản đồ địa chính xã Yên Chính lập năm 1994 ở thôn Ninh Sơn xã Yên Chính huyện Ý Yên tỉnh Nam Định nên HĐXX không đề cập xem xét.

. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Chị Nguyễn Thị N không phải chịu án phí.

Anh Q, chị G, bà T, chị S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của Điều 271, 272 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 147, 177, 179, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N đối với anh Nguyễn Huy Q chị Lã Thị G bà Trần Thị T chị Nguyễn Thị S.

Buộc anh Nguyễn Huy Q chị Lã Thị G bà Trần Thị T chị Nguyễn Thị S phải trả cho chị N số tiền còn nợ 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng).

Chị Nguyễn Thị N không yêu cầu anh Q chị G bà T chị S phải trả lãi đối với khoản tiền vay là 200.000.000 đồng và không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với cam kết về việc chuyển giao toàn bộ diện tích đất hai lúa 1803 m2 cùng các tài sản trên đất tại thửa đất số 41 tờ bản đồ số 12 bản đồ địa chính xã Yên Chính lập năm 1994 ở thôn Ninh Sơn xã Yên Chính huyện Ý Yên tỉnh Nam Định nên HĐXX không đề cập xem xét.

T hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên, nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại Khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự; nếu không thỏa thuận được thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Anh Q chị G bà T chị S phải nộp 10.000.000 đồng.

Chị N không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho chị N số tiền 5.000.000đ đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2015/0001089, ngày 01/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ý Yên.

Chị N, chị G được kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Q, bà T, chị S vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết.

T hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Cỡ chữ