- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng TMCP B tranh chấp hợp đồng tín dụng với ông Võ Văn H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B.
- Căn cứ chính? Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI LĂNG TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2019/DS-ST Ngày: 30/7/2019 V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI LĂNG, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mão
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Quang Hải
2. Ông Đào Văn Trẫm
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Bùi Diệu Lương
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Lăng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2019 tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 10/2019/TLST-DS ngày 18 tháng 4 năm 2019 về Tranh chấp Hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2019/QĐXX-ST ngày 21 tháng 6 năm 2019 và quyết định hoãn phiên tòa số 06/2019/QĐST-DS ngày 10 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP B; địa chỉ trụ sở: Tòa nhà C, đường D, phường N, quận H, Tp Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Doãn S - Tổng giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Quang T - Giám đốc chi nhánh Ngân hàng TMCP B chi nhánh Q
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng giải quyết vụ án: Ông Bùi Công H - Phó Giám đốc Trung tâm Giám sát Kinh doanh; có mặt
2. Bị đơn: Ông Võ Văn H; địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 19/3/2019, bản tự khai và lời khai tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 21/9/2017, Ngân hàng TMCP B - Chi nhánh Q đã ký Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số HĐTD46020172424 với ông Võ Văn H, số tiền được cấp tín dụng là 50.000.000 đồng, ông Võ Văn H đã nhận đủ tiền vay trong ngày 21/9/2017. Thời hạn vay là 36 tháng. Lãi suất 09%/năm. Phương pháp áp dụng lãi suất: Lãi suất cố định được tính trên tổng dư nợ gốc ban đầu. Lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, cụ thể lãi suất quá hạn là 13,5%/năm. Lãi suất nợ lãi quá hạn là 10%/năm. Theo cam kết về việc trả nợ, hàng tháng ông Võ Văn H phải trả cho Ngân hàng TMCP B số tiền gốc là 1.390.000 đồng và tiền lãi phát sinh theo ngày thực tế trong tháng. Quá trình thu hồi nợ ông Võ Văn H đã trả được 9 kỳ, mỗi kỳ tương ứng với một tháng, từ thời điểm 21/09/2017 đến 25/6/2018, với tổng số tiền gốc đã trả là 12.510.000 đồng và số tiền lãi là 3.462.969 đồng. Do không trả được nợ đến hạn vào ngày 25/07/2018 nên khoản vay của ông Võ Văn H đã bị chuyển nợ quá hạn vào ngày 04/8/2018. Kể từ khi khoản vay bị chuyển sang nợ quá hạn, Ngân hàng TMCP B đã nhiều lần đôn đốc, tạo điều kiện để ông Võ Văn H thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng vẫn không có kết quả, ông H vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, thường xuyên vi phạm các cam kết trả nợ. Tính đến ngày 30/7/2019 tổng dư nợ của ông Võ Văn H là 44.011.955 đồng, trong đó nợ gốc là 37.490.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 4.999.531 đồng, nợ lãi quá hạn là 1.522.424 đồng.
Vì vậy, Ngân hàng TMCP B khởi kiện yêu cầu ông Võ Văn H phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ ngay cho Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số HĐTD46020172424 ký ngày 21/9/2019 với tổng số tiền tính đến ngày 30/7/2019 là: 44.011.955 đồng, trong đó nợ gốc là 37.490.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 4.999.531 đồng, nợ lãi quá hạn là 1.522.424 đồng. Trong thời gian chưa thanh toán nợ, ông Võ Văn H phải chịu lãi suất quá hạn theo Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số HĐTD46020172424 ngày 21/9/2019 cho đến khi tất toán khoản vay.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Võ Văn H gồm: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo số 47/TB-TA ngày 13/5/2019 về việc thu thập được tài liệu, chứng cứ; Thông báo số 46/TB-TA ngày 13/5/2019, thông báo số 52/TB-TA ngày 31/5/2019 về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Giấy triệu tập đến phiên tòa; quyết định hoãn phiên tòa. Tuy nhiên ông H không trình bày ý kiến gì và đã vắng mặt, không đến tham gia tố tụng tại các phiên họp và phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Lăng phát biểu ý kiến: Trong thời gian chuẩn bị xét xử, thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 26, 35, 97, 177, 195, 196, 203, 208, 220, 233 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 71, 227, 234 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 , 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Buộc ông Võ Văn H phải trả cho ngân hàng TMCP B tổng số tiền vay còn nợ lại tính đến ngày 30/7/2019 là 44.011.955 đồng, trong đó tiền gốc là 37.490.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 4.999.531 đồng, tiền lãi quá hạn là 1.522.424 đồng và tiếp tục trả lãi cho đến khi thanh toán xong khoản vay. Bị đơn ông Võ Văn H phải chịu án phí DSST theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Sau khi xem xét yêu cầu của nguyên đơn, xác định đây là vụ án “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Theo Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số HĐTD46020172424 ký ngày 21/9/2017 giữa Ngân hàng TMCP B và ông Võ Văn H, cư trú tại: Thôn A, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Võ Văn H như: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về việc thu thập được tài liệu, chứng cứ; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Giấy triệu tập đến phiên tòa; quyết định hoãn phiên tòa. Nhưng ông H vắng mặt không có lý do chính đáng. Vì vậy, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự cần chấp nhận ý kiến của nguyên đơn và đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Lăng, tiến hành xét xử vắng mặt ông Võ Văn H.
Về nội dung vụ án: Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số HĐTD46020172424 ký ngày 21/9/2017 giữa Ngân hàng TMCP B và ông Võ Văn H là hợp pháp, phù hợp với các quy định của pháp luật về điều kiện có hiệu lực giao dịch dân sự nói chung và Hợp đồng tín dụng nói riêng nên có hiệu lực bắt buộc đối với các bên tham gia giao dịch. Ngày 21/9/2017 ông Võ Văn H đã nhận được số tiền vay là 50.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng số HĐTD46020172424 đã ký kết nên ông H phải có trách nhiệm trả nợ gốc và lãi theo cam kết tại Hợp đồng.
Xét về khoản nợ gốc: Theo cam kết tại mục 4.2 Hợp đồng tín dụng số HĐTD46020172424 thì nợ gốc trả định kỳ vào ngày 25 của mỗi tháng, chia thành 36 kỳ trả nợ, kỳ trả nợ gốc đầu tiên bắt dầu từ tháng 10/2017. Kỳ trả nợ gốc thứ 01 đến kỳ trả nợ gốc thứ 35, mỗi kỳ trả 1.390.000 đồng, kỳ cuối cùng trả 1.350.000 đồng. Quá trình thu hồi nợ vay, từ tháng 10/2017 đến tháng 6/2018 ông Võ Văn H đã trả được 9 kỳ với tổng số tiền gốc đã trả là 12.510.000 đồng, còn nợ lại số tiền gốc là 37.490.000 đồng. Do không trả được nợ, đến ngày 04/7/2018 khoản nợ của ông H đã chuyển sang nợ quá hạn và Ngân hàng có quyền thu hồi nợ trước hạn vì ông H đã vi phạm các cam kết theo thỏa thuận tại Điều 7 Hợp đồng tín dụng số HĐTD46020172424. Do đó, cần buộc ông Võ Văn H phải có trách nhiệm trả toàn bộ số nợ gốc 37.490.000 đồng còn lại cho Ngân hàng TMCP B.
Xét về khoản nợ lãi: Tại Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số HĐTD46020172424 ký ngày 21/9/2017, nguyên đơn và bị đơn đã thỏa thuận lãi suất cho vay là 09%/năm, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, lãi suất nợ lãi quá hạn là 10%/năm, lãi trả định kỳ vào ngày 25 của mỗi tháng theo dư nợ gốc ban đầu, bắt đầu trả lãi từ tháng 10/2017. Trong quá trình từ tháng 10/2017 đến tháng 6/2018, cùng với việc trả nợ gốc thì ông Võ Văn H đã trả lãi theo cam kết với tổng số tiền là 3.462.969 đồng. Do không tiếp tục trả nợ nên đến ngày 04/7/2018 khoản nợ của ông H đã chuyển sang nợ quá hạn. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm 30/7/2019, ông Võ Văn H còn nợ Ngân hàng TMCP B số tiền lãi là 6.521.955 đồng, trong đó lãi trong hạn là 4.999.531 đồng, lãi quá hạn là 1.265.598 đồng. Xét Hợp đồng tín dụng đã được xác lập và thỏa thuận giữa các bên về mức lãi suất trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật Các Tổ chức Tín dụng. Vì vậy, ông Võ Văn H phải có trách nhiệm trả các khoản tiền lãi theo cam kết tại Hợp đồng tín dụng.
Hội đồng xét xử thấy rằng, yêu cầu của Ngân hàng TMCP B là có căn cứ, phù hợp với các quy định của pháp luật nên cần chấp, buộc ông Võ Văn H phải trả cho Ngân hàng TMCP B tổng số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm 30/7/2019 là 44.011.955 đồng, trong đó nợ gốc là 37.490.000 đồng, nợ lãi là 6.521.955 đồng. Ông Võ Văn H còn phải tiếp tục trả lãi cho đến khi thanh toán xong khoản vay.
Về án phí: Bị đơn ông Võ Văn H phải chịu án phí DSST là 5% trên tổng số nợ phải trả tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm, cụ thể: 44.011.955 đồng x 5% = 2.200.600 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 4 Điều 147; Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 117, Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự; Điều 91, khoản 1 Điều 95 Luật Các Tổ chức Tín dụng; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B.
Buộc ông Võ Văn H phải trả cho Ngân hàng TMCP B số tiền 44.011.955 đồng (Bốn mươi bốn triệu không trăm mười một ngàn, chín trăm năm mươi lăm đồng), trong đó tiền gốc là 37.490.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 30/7/2019 là 6.521.955 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Võ Văn H còn phải tiếp tục chịu tiền lãi quá hạn của số tiền gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số HĐTD46020172424 ngày 21/9/2017 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Về án phí: Ông Võ Văn H phải chịu 2.200.600 đồng (Hai triệu hai trăm ngàn, sáu trăm đồng) án phí DSST. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP B số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.036.000 đồng (Một triệu không trăm ba mươi sáu ngàn đồng) theo biên lai số AA/2018/0002019 ngày 12/4/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND Hải Lăng; - Đương sự; - THADS Hải Lăng; - Lưu hồ sơ, TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phan Thị Mão |