- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng chính sách xã hội - Phan Lạc Giang T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng chính sách xã hội.
- Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ THIỆN TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2019/DS-ST Ngày: 10/7/2019 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ THIỆN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Toàn
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Chế Công Nghị
2. Ông Rmah Ét
- Thư ký Toà án: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo – Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Minh – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2018/TLST- DS ngày 17/12/2018, tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2019/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 6 năm 2019, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Chính sách xã hội
Địa chỉ: Tòa nhà CC5, khu bán đảo Linh Đàm, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hà Văn D – Giám đốc Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội PT – Chi nhánh tỉnh Gia Lai.
Người được ủy quyền lại: Bà Phạm Thị H – Phó Giám đốc Phòng Giao dịch (Theo QĐ ủy quyền số 85a/QĐ-NHCS ngày 02/5/2019). Có mặt.
Địa chỉ: Tổ dân phố 3, thị trấn PT, huyện PT, tỉnh Gia Lai.
Bị đơn: Bà Phan Lạc Giang T, sinh năm 1973. Vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.
Địa chỉ cư trú cuối cùng: Thôn Plei Tăng C, xã Ia Ake, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 16 tháng 11 năm 2018, bản tự khai và tại phiên tòa, đại diện cho nguyên đơn bà Phạm Thị H trình bày:
Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về việc cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác. Ngày 24/5/2012, Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện PT, tỉnh Gia Lai cho bà Phan Lạc Giang T (trú tại Thôn Plei Tăng C, xã IA, huyện Phú Thiện) vay số tiền 30.000.000 đồng, lãi suất 0.9%/tháng, thời hạn vay 36 tháng, hạn trả nợ cuối cùng ngày 24/5/2015. Mục đích vay vốn là chăn nuôi bò sinh sản. Tín chấp qua Hội Phụ nữ và UBND xã IA, huyện PT, tỉnh Gia Lai. Ngày 19/5/2015, Ngân hàng cho gia hạn nợ đến ngày 24/11/2016 nhưng bà T vẫn không thanh toán được số tiền gốc và lãi cho Ngân hàng. Ngân hàng đã chuyển nợ số tiền 30.000.000 đồng sang nợ quá hạn. Hiện tại, bà T đã bỏ đi khỏi địa phương nên gây khó khăn cho Ngân hàng trong việc thu hồi vốn. Vì vậy, Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Phan Lạc Giang T trả số tiền gốc là 30.000.000 đồng và lãi suất trong hạn, quá hạn đến ngày 10/7/2019 là 11.670.300 đồng.
*Đối với bị đơn bà Phan Lạc Giang T:
Theo kết quả xác minh được biết, bà Phan Lạc Giang T bỏ đi khỏi địa phương cùng với cả gia đình vào cuối năm 2016, không thông báo cho Ngân hàng biết. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương cho bà T biết về việc Tòa án đang giải quyết vụ án. Tòa án tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật cho bị đơn biết để tham gia giải quyết vụ án nhưng bị đơn đã cố tình trốn tránh.
*Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát phân tích thẩm quyền giải quyết vụ án và việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong việc giải quyết vụ án. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đại diện Viện kiểm sát đã phân tích yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về việc áp dụng pháp luật tố tụng
Ngân hàng Chính sách xã hội khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết đòi nợ theo hợp đồng. Đây là quan hệ pháp luật được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà T là bị đơn trong vụ kiện có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và địa chỉ cư trú cuối cùng tại thôn Plei Tăng C, xã IA, huyện PT, tỉnh Gia Lai. Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai có thẩm quyền giải quyết vụ án.
Về pháp luật nội dung
Hợp đồng vay vốn ký kết giữa Ngân hàng Chính sách xã hội với bà T xác lập ngày 24/5/2012. Nội dung và hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005. Tranh chấp xảy ra và được giải quyết tại thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực nên áp dung Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết vụ án.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Hợp đồng vay vốn được thể hiện bằng hình thức Sổ vay vốn được ký giữa Phòng Giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội với bà Phan Lạc Giang T vào ngày 24/5/2015 là có thật. Theo hợp đồng, bà Phan Lạc Giang T có vay Ngân hàng 30.000.000 đồng, lãi suất 0.9%/tháng, thời hạn vay 36 tháng, hạn trả nợ cuối cùng ngày 24/5/2015. Mục đích vay vốn là chăn nuôi bò sinh sản. Tín chấp qua Hội Phụ nữ và UBND xã IA, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai. Theo tài liệu, chứng cứ do Ngân hàng cung cấp tại hồ sơ vụ án thì bà T đã trả được 14.166.000 đồng tiền lãi. Đến hạn trả nợ bà T đã không trả được nợ. Ngân hàng đã gia hạn trả nợ đến ngày 24/11/2016, nhưng bà T cũng không trả được nợ gốc 30.000.000 đồng và toàn bộ tiền lãi còn lại cho Ngân hàng.
Căn cứ các chứng cứ, tài liệu do đại diện của Ngân hàng cung cấp tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng, hợp đồng được hai bên ký kết là hợp pháp. Bà Phan Lạc Giang T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Đã bỏ đi khỏi địa phương và không thông báo cho Ngân hàng biết. Vì vậy, Ngân hàng tính lãi trên nợ gốc và tính lãi quá hạn theo quy định đối với số tiền gốc chưa trả để khởi kiện đòi cả nợ gốc và lãi với bà T số tiền trên là có căn cứ. Do vậy, căn cứ các Điều 357, 463, 466, khoản 2 Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2015, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Phan Lạc Giang T phải trả cho Ngân hàng tổng cộng 41.670.300 đồng. Trong đó tiền gốc là 30.000.000 đồng và lãi 11.670.300 đồng (Cả tiền lãi trong hạn và lãi quá hạn)
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng được chấp nhận toàn bộ nên bà Phan Lạc Giang T phải chịu toàn bộ án phí sơ thẩm của vụ kiện là 2.083.515 đồng (41.670.300 x 5% = 2.083.515 đồng) để sung vào quỹ Nhà nước.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, 35, 39; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 357, 463, 466, khoản 2 Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố Tụng dân sự; khoản 2 Điều 26, khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng chính sách xã hội.
Buộc bà Phan Lạc Giang T phải trả cho Ngân hàng Chính sách xã hội thông qua Phòng Giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai số tiền 41.673.300 đồng (Bốn mươi mốt triệu sáu trăm bảy mươi ba nghìn ba trăm đồng).Trong đó có 30.000.000 đồng tiền gốc và 11.673.300 đồng tiền lãi.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bên vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong sổ vay vốn cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
- Về án phí:
Buộc bà Phan Lạc Giang T phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 2.083.515 đồng để sung quỹ Nhà nước.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 10/7/2019. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn nói trên kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hánh án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hàn án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Phú Thiện; - Chi cục THA DS huyện Phú Thiện; - Các đương sự; - Lưu HSVA, VT | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Văn Toàn |