vanban.org

Bản án 02/2019/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 10/01/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/01/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ Điều 123, khoản 2 Điều 131, Điều 166, khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 (Điều 128, khoản 2 Điều 137, Điều 256, khoản 1 Điều 474 của Bộ luật dân sự 2005);

Căn cứ Thông tư số 11/2011/TT-NHNN ngày 29 tháng 4 năm 2011 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nướ c quy đi ̣nh về quy đi ̣nh về chấm dứt huy động và cho vay vốn bằng vàng của tổ chức tín dụng; Căn cứ Thông tư số 32/2011/TT-NHNN ngày 06 tháng 10 năm 2011 của Thống đốc Ngân hàng nhà nướ c sửa đổi,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ Điều 123, khoản 2 Điều 131, Điều 166, khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 (Điều 128, khoản 2 Điều 137, Điều 256, khoản 1 Điều 474 của Bộ luật dân sự 2005);
  • Căn cứ chính? Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự; Thông tư số 11/2011/TT-NHNN Quy định về chấm dứt huy động và…; Thông tư số 12/2012/TT-NHNN Sửa đổi, bổ sung một số điều của…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 02/2019/DS-PT
Ngày 10-01- 2019
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thu Hương

Các Thẩm phán:

Bà Trần Thi ̣ Thu Hà

Ông Cao Văn Tuấn

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Thẩm tra viên của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Dỏn - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 42/2018/TLPT-DS ngày 05 tháng 11 năm 2018 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2018/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2018 của Tòa án nhân dân quâ ̣n Lê Chân, thành phố Hải Phòng bị kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3810/2018/QĐ-PT ngày 11 tháng 12 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 4008/2018/QĐ-PT ngày 26 tháng 12 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Hà Thị Th; nơi cư trú: Số 284 Trần Nguyên H, phường Niệm Ng, Quận LC, thành phố Hải Phòng; có mă ̣t.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Mạnh H, Luật sư văn phòng luật sư Nguyên Minh thuộc đoàn luật sư thành phố Hải Phòng là người đại diện theo ủy quyền (văn bản uỷ quyền ngày 09-11-2017); có mă ̣t.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ch; nơi cư trú: Số 14/52 Nguyễn Tường L, phường Nghĩa X, Quận LC, thành phố Hải Phòng vắng mă ̣t

- Viê ̣n Kiểm sá t khá ng nghi ̣: Viê ̣n Kiểm sát nhân dân quâ ̣n Lê Chân.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ và bản án sơ thẩm, nội dung vụ án như sau:

Tại Giấy biên nhận vay vàng ngày 09 tháng 9 năm 2014 (âm li ̣ch) có nội dung: “Tên tôi là Nguyễn Thị Ch, số nhà 14, ngõ 52, đường Nguyễn Tường Loan, phường Nghĩa Xá, Quận Lê Chân. Hôm nay là ngày 09-9-2014 (âm lịch). Tôi có vay của bà Hà Thị Th 10 cây vàng SJC. Trong thời hạn vay là 01 năm, tôi hứa sẽ trả số vàng trên…”. Phía dưới mục ký tên có hai dòng ghi “Ngườ i vay tiền”, “Ngườ i bảo lãnh” và có chữ ký của 03 ngườ i là Nguyễn Thi ̣ Ch, Nguyễn Duy Th, Nguyễn Thi ̣ Minh Ch.

Tại giấy vay tiền ngày 12 tháng 12 năm 2014 (âm li ̣ch) có nội dung: “Tên tôi là Nguyễn Thị Ch, sinh năm 1950, địa chỉ: Số 14/52 Nguyễn Tường Loan, phường Nghĩa Xá, Lê Chân, Hải Phòng. Hôm nay là ngày 12-12-2014 (âm lịch). Tôi có mượn của bà Hà Thị Th, địa chỉ 284 Trần Nguyên Hãn, phường Niệm Nghĩa, Lê Chân, Hải Phòng 5 cây vàng SJC (năm cây). Tôi xin hẹn đến ngày 12-12-2015 (âm lịch) tôi sẽ trả số vàng trên. Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm”. Phía dưới mục “Ngườ i vay tiền” có chữ ký của Nguyễn Thi ̣ Minh Ch và Nguyễn Duy Th. Phía dưới mục “Ngườ i chịu trách nhiệm” có chữ ký Nguyễn Thi ̣ Ch.

Nguyên đơn tri nh bà y: Do có quen biết nên bà có cho bà Nguyễn Thị Ch vay

̀ vàng hai lần như trên. Khi vay bà Ch nói vay cho vợ chồng con gái bà Ch là Nguyễn Thị Minh Chi và con rể là Nguyễn Duy Thắng sử dụng. Con gái bà Ch là người viết hộ hai giấy vay trên. Hết thời hạn vay bà Ch không trả nợ. Bà Th đòi nhiều lần nhưng bà Ch chưa trả khoản nợ nào. Lúc đầu bà Hà Thị Th có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị Ch và anh Nguyễn Duy Th, chị Nguyễn Thi ̣ Minh Ch phải liên đớ i thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc là 15 cây vàng SJC. Do hiê ̣n anh Nguyễn Duy Th và chị Nguyễn Thi ̣ Minh Ch đa bõ ̉ đi khỏi đi ̣a phương không biết đi ̣a chi nên bả

̀ Hà Thị Th rút lại yêu cầu chỉ yêu cầu bà Nguyễn Thi ̣ Ch có trách nhiện trả cho bà 15 cây vàng SJC, tạm tính bằng 549.000.000 đồng (Một cây vàng tính thành tiền là 36.600.000đ); tiền lãi từ ngày 02 tháng 10 năm 2015 đến ngày 20 tháng 9 năm 2018 (ngày xét xử) của 10 cây vàng, thời gian là 35 tháng 18 ngày theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định là 9%/ năm, cụ thể là 97.827.288 đồng; tiền lãi từ 21 tháng 01 năm 2016 đến ngày 20 tháng 9 năm 2018 của 05 cây vàng là 32 tháng, lãi suất 9%/năm là 43.904.959 đồng. Tổng cộng cả gốc và lãi là 690.732.000 đồng.

Bị đơn là bà Nguyễn Thị Ch: Đa được nhận thông báo thụ lý vụ án và triệu tập̃ hợp lê ̣ nhiều lần nhưng không đến tòa án, không có ý kiến gi.

̀

Với nội dung nêu trên tại Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2018/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2018 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân , thành phố Hải Phòng đã quyết định:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 305, Điều 471, Điều 474 của Bộ luật Dân sự năm 2005; điểm a khoản 1 Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị Th.

Buộc bà Nguyễn Thị Ch phải trả cho bà Hà Thị Th tổng số tiền là 690.732.000đ (sáu trăm chín mươi triệu bảy trăm ba mươi hai nghìn đồng); trong đó: Nợ gốc 15 cây vàng SJC tính bằng 549.000.000 đồng; tiền lãi là 141.732.000đ.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ngoài ra bản án còn tuyên án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm: Viện Kiểm sát nhân dân quâ ̣n Lê Chân , thành phố Hải Phòng có Quyết định số 02/QĐKNPT-VKS-DS ngày 12 tháng 10 năm 2018, Kháng nghị đề nghị hủy bản án sơ thẩm nêu trên và chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân quâ ̣n Lê Chân giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm với các lý do:

- Bản án sơ thẩm không đưa chị Nguyễn Thi ̣ Minh Ch và anh Nguyễn Duy Th tham gia tố tu ̣ng vớ i tư các h ngườ i có quyền lợi nghia vu ̣̃

liên quan là thiếu s ót, vi phạm quy định của Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng dân sự.

- Đối tượng vay mượn là 15 cây vàng JSC, nên cần xác định bên vay phải giao trả cho bên cho vay đúng vật vay là vàng.

- Bản án sơ thẩ m quy đổi 15 cây vàng thành tiền và xác đi ̣nh đó là số tiền vay và buộc bị đơn phải trả tiền lai lã ̀ không có căn cứ pháp luâ ̣t.

Tại phiên toà phúc thẩm:

Ngườ i đại diê ̣n theo ủy quyền của bà Hà Thị Th và bà Hà Thị Th thống nhất trình bày: Ngườ i giao di ̣ch vay vàng của bà Hà Thị Th là bà Nguyễn Thi ̣ Ch và bà Nguyễn Thi ̣ Ch là người trực tiếp nhận vàng từ bà Hà Thị Th. Khi vay thi bà Nguyễn

̀ Thị Ch nói là vay cho con gái , lúc bà Hà Thị Th đưa vàng cho bà Nguyễn Thi ̣ Ch thì có cả chị Nguyễn Thi ̣ Minh Ch ở đó, sau đó bà Nguyễn Thi ̣ Ch có đưa lại vàng cho chị Nguyễn Thi ̣ Minh Ch không thi bà Hà Thị Th không biết. Tại cấp sơ thẩm, ngườ i

̀ đa ̣i diê ̣n theo ủy quyền của bà Hà Thị Th có rút yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu bà Nguyễn Thi ̣ Ch trả nợ cho bà thì bà hoàn toàn đồng ý vì bà Nguyễn Thi ̣ Ch là người giao di ̣ch và nhâ ̣n vàng trực tiếp vớ i bà Hà Thị Th nên bà Nguyễn Thi ̣ Ch phải có trách nhiệm trả nợ cho bà . Tại phiên tòa phúc thẩm bà Hà Thị Th đề nghị rút một phần yêu cầu khở i kiê ̣n đó là không yêu cầu bà Nguyễn Thi ̣ Ch phải trả phần lãi nữa.

Đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa có quan điểm:

- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về phía nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình, phía bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do là không thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.

- Về nội dung: Kháng nghị của Viê ̣n Kiểm sát nhân dân quâ ̣n Lê Chân là có căn cứ cần được chấp nhận. Tuy nhiên, sau khi Viê ̣n Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân có kháng nghị phúc thẩm, phía bị đơn và người liên quan không có ý kiến gì đối với bản án sơ thẩm và kháng nghị của Viê ̣n Kiểm sát, từ đó cho thấy họ tự từ bỏ việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, chấp nhận với bản án sơ thẩm. Vì vậy, mặc dù đưa thiếu người tham gia tố tụng, thiếu sót trong việc thu thập chứng cứ nhưng không cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm theo kháng nghị của Viê ̣n Kiểm sát nhân dân quâ ̣n Lê Chân , chỉ cần sửa một phần bản án là đúng quy định pháp luật và đảm bảo quyền lợi cho bị đơn và người liên quan. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thi ̣ Ch là người cao tuổi, nhưng bà không có đơn đề nghị được miễn án phí nên buộc bà phải chịu án phí sơ thẩm đối với trị khoản vay 15 cây vàng tại thời điểm xét xử.

Từ những phần tích đánh giá nêu trên, đề nghị Hô ̣i đồng xét xử chấp nhận một phần kháng nghị của Viê ̣n Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân sửa một phần Bản án sơ thẩm số 08/2018/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2018 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, theo hướng không chấp nhận việc buộc bị đơn phải trả lãi suất đối với khoản vay bằng vàng.

Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ, cũng như lời trình bày của các đương sự, quan điểm của Viện Kiểm sát tại phiên tòa;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Đây là vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản, theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về sự vắng mặt của các đương sự: Bà Nguyễn Thi ̣ Ch đa đượ̃

c nhâ ̣n trực tiếp Quyết đi ̣nh đưa vu ̣ án ra xét xử và Quyết đi ̣nh hoan phiên tõ

̀a nhưng cả hai lần bà Nguyễn Thi ̣ Ch đều vắng mặt không có lý do , căn cứ khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tu ̣ng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thi ̣ Ch.

Xét việc rút yêu cầu bà Nguyễn Thi ̣ Ch phải trả lãi suất của nguyên đơn tại phiên tòa phúc thẩm : Theo điểm a khoản 1 Điều 299 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì tại phiên tòa phúc thẩm nế u nguyên đơn rút yêu cầu khở i kiê ̣n phải hỏi ý kiến của bi ̣ đơn. Do ta ̣i phiên tòa phúc thẩm bi ̣ đơn vắng mă ̣t nên không hỏi ý kiến của bi ̣ đơn được, vì vậy Hội đồng xét xử không chấp nhận việc nguyên đơn rút một phần yêu cầu khở i kiê ̣n ta ̣i phiên tòa phúc thẩm.

Về trách nhiê ̣m ngườ i phải trả tiền : Trong nô ̣i dung hai giấy vay vàng ngày 09 tháng 9 năm 2014 (âm li ̣ch) và 12 tháng 12 năm 2014 (âm li ̣ch) chỉ nói bà Nguyễn Thị Ch vay của bà Hà Thị Th, tại phiên tòa bà Hà Thị Th trình bày bà Nguyễn Thi ̣ Ch là người hỏi bà để vay vàng và bà Nguyễn Thi ̣ Ch cũng là người trực tiếp nhận vàng từ bà Hà Thị Th. Do vâ ̣y trách nhiê ̣m trả nợ chinh thuô ̣c về bà Nguyễn Thi ̣ Ch còn bà

́

Nguyễn Thi ̣ Ch vay cho ai thuô ̣c về quan hê ̣ pháp luâ ̣t khác.

Xét kháng nghị của Viê ̣n Kiểm sát về nô ̣i dung đối tượng vay mượn là 15 cây vàng JSC, nên cần xác định bên vay phải giao trả cho bên cho vay đúng vâ ̣t vay là vàng: Theo Thông tư số 11/2011/TT-NHNN ngày 29 tháng 4 năm 2011 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nướ c quy đi ̣nh về quy đi ̣nh về chấm dứt huy động và cho vay vốn bằng vàng của tổ chức tín dụng, được sửa đổi, bổ sung bởi: Thông tư số 32/2011/TT-NHNN ngày 06 tháng 10 năm 2011, Thông tư số 12/2012/TT-NHNN ngày 27 tháng 4 năm 2012 và Thông tư số 24/2012/TT-NHNN ngày 23 tháng 8 năm 2012 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nướ c, thì kể từ ngày 01 tháng 5 năm 2010 đến nay Ngân hàng Nhà nướ c đa chẫ

́m dứ t viê ̣c huy đô ̣ng và cho vay vốn bằng vàng. Viê ̣c vay mượn vàng giữa baHà Thị Th̀

và bà Nguyễn Thi ̣ Ch được thực hiê ̣n vào năm2014 do vâ ̣y giao di ̣ch này là vô hiê ̣u theo Điều 123 của Bô ̣ luâ ̣t Dân sự (Điều 128 của Bộ luật Dân sự 2005). Trong vu ̣ án này đối tượng vay là vàng SJC, do vâ ̣y theo quy đinh của khoản 2 Điều 131, khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự (khoản 2 Điều 137, khoản 1 Điều 474 của Bộ luật Dân sự 2005) thì bà Nguyễn Thi ̣ Ch phải trả cho bà Hà Thị Th 15 cây vàng SJC. Như vâ ̣y bản án sơ thẩm tuyên baNguyễn Thi ̣̀

Ch phải cho cho bàHà Thị Th bằng tiền là không đúng quy đi ̣nh của pháp luâ ̣. t

Xét kháng nghị của Viê ̣n Kiểm sát về nô ̣i dung Bản án sơ thẩm quy đổi 15 cây vàng thành tiền và xác đi ̣nh đó là số tiền vay và buô ̣c bi ̣ đơn phải trả tiền lai lã ̀ không có căn cứ pháp luâ ̣t : Như trên phân tich Giao dịch vay vàng giữa bà Th và bà

́

Ch là vô hiệu. Đối tượng phải trả là vàng , theo cá c Thông tư nêu trên thi Ngân hàng

̀ Nhà nướ c không có quy đi ̣nh về lãi suất huy đô ̣ng và cho vay vốn bằng vàng, không quy đi ̣nh mức lãi suất gửi tiết kiệm vàng. Do vâ ̣y, Bản án sơ thẩm quy vàng ra tiền rồi tính lãi suất buộc bàNguyễn Thị Ch phải trả cho bàHà Thị Th là không có căn cứ.

Xét kháng nghị của Viện Kiểm sát về Bản án sơ thẩm đưa thiếu người tham gia tố tu ̣ng : Trong hai giấy vay tiền , vàng mà nguyên đơn xuất trình , dướ i mu ̣c “Ngườ i vay tiề n”, “Ngườ i bảo lãnh” ngoài chữ chữ ký của bà Ch thì còn có chữ ký của anh Nguyễn Duy Th , và chị Nguyễn Thi ̣ Minh Ch (là con gái và con rể bà Ch). Tại đơn khởi kiện nguyên đơn có yêu cầu bà Nguyễn Thị Ch và anh Nguyễn Duy Th, chị Nguyễn Thi ̣ Minh Ch phải liên đới thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn, sau đó nguyên đơn thay đổi yêu cầu chi yêu cầu bà Ch trả nợ cho nguyên đơn thì vẫn

̉ phải xác định anh Nguyễn Duy Th, và chị Nguyễn Thi ̣ Minh Ch là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vu ̣ án. Tuy nhiên, hiê ̣n nay không xác đi ̣nh được nơi ở của anh Nguyễn Duy Th và chị Nguyễn Thi ̣ Minh Ch , và như phân tích tại mục [4] thì trách nhiệm trả nợ thuộc về bà Nguyễn Thi ̣ Ch, còn bà Nguyễn Thi ̣ Ch vay cho anh Nguyễn Duy Th, chị Nguyễn Thi ̣ Minh Ch thuô ̣c mối quan hê ̣ khác. Hơn nữa, viê ̣c bà Nguyễn Thi ̣ Ch đa nhâ ̣̃

n tống đa ̣t trực tiếp bản án sơ thẩm nhưng bà Nguyễn Thi ̣ Ch không có ý kiến là đồng nghĩa với viê ̣c bà Nguyễn Thi ̣ Ch đa chẫ

́p nhâ ̣n nghia vu ̣̃

trả nợ của minh . Như vâ ̣y, Bản án sơ thẩm không đưa chi ̣ Nguyễn Thi ̣ Minh Ch , anh

̀ Nguyễn Duy Th tham gia tố tu ̣ng vớ i tư cách ngườ i có quyền lợi nghia vu ̣̃

liên quan tuy là thiếu sót nh ưng không làm thay đổi bản chất sự việc và không ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự trong vu ̣ án. Do vâ ̣y kháng nghi ̣ về nô ̣i dung này của Viê ̣n Kiểm sát là có căn cứ nhưng không cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm.

Từ những phân tích trên, chấp nhận mô ̣t phần kháng nghị của Viện Kiểm sát. Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân quâ ̣n Lê Chân theo hướng phân tích trên.

Về án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm:

Bà Nguyễn Thi ̣ Ch là người cao tuổi, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thi ̣ Ch không có mặt, không có đơn đề nghị được miễn án phí nên vẫn buộc bà Nguyễn Thi ̣ Ch phải chịu án phí sơ thẩm tương ứ ng với trị giá 15 cây vàng tại thời điểm xét xử sơ thẩm (36.600.000 đồng/01 cây vàng SJC).

Bà Hà Thị Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu không

được chấp nhâ ̣n. Do bà Hà Thị Th là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên , căn cứ điể m đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31-12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn toàn bô ̣ án phi cho bà Hà Thị Th.

́

Bản án sơ thẩm bị sửa do có kháng nghị của Viện Kiểm sát, các đương sự không có kháng cáo nên các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 296, khoản 2 Điều 308, Điều 309, Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 123, khoản 2 Điều 131, Điều 166, khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 (Điều 128, khoản 2 Điều 137, Điều 256, khoản 1 Điều 474 của Bộ luật dân sự 2005);

Căn cứ Thông tư số 11/2011/TT-NHNN ngày 29 tháng 4 năm 2011 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nướ c quy đi ̣nh về quy đi ̣nh về chấm dứt huy động và cho vay vốn bằng vàng của tổ chức tín dụng;

Căn cứ Thông tư số 32/2011/TT-NHNN ngày 06 tháng 10 năm 2011 của Thống đốc Ngân hàng nhà nướ c sửa đổi, bổ sung Thông tư số 11/2011/TT-NHNN ngày 29 tháng 4 năm 2011;

Căn cứ Thông tư số 12/2012/TT-NHNN ngày 27 tháng 4 năm 2012 của Thống đốc Ngân hàng nhà nướ c sửa đổi, bổ sung Thông tư số 11/2011/TT-NHNN ngày 29 tháng 4 năm 2011;

Căn cứ Thông tư số 24/2012/TT-NHNN ngày 23 tháng 8 năm 2012 của Thống đốc Ngân hàng nhà nướ c sửa đổi, bổ sung Thông tư số 11/2011/TT-NHNN ngày 29 tháng 4 năm 2011;

Căn cứ khoản 4 Điều 26, khoản 1 Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31-12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

Sưa ban an dân sự sơ thẩm số 08/2018/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2018 của

̉

̉ ́ Tòa án nhân dân quâ ̣n Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

Chấp nhâ ̣n mô ̣t phần yêu cầu khở i kiê ̣n của bà Hà Thị Th.

- Buộc bà Nguyễn Thị Ch phải trả cho bà Hà Thị Th 15 cây vàng SJC.

- Về án phi dân sự sơ thẩm:

́

+ Bà Nguyễn Thi ̣ Ch phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 25.960.000 đồng (hai mươi lăm triê ̣u chin trăm sáu mươi ngàn đồng).

́

+ Bà Hà Thị Th không phải chi ̣u án phi dân sự sơ thẩm . Hoàn trả cho bà Hà

́

Thị Th số tiền ta ̣m ứ ng án phí dân sự sơ thẩm là 16.000.000 đồng (mườ i sáu triê ̣u đồng) theo biên số 0005191 ngày 01 tháng 6 năm 2018 của Chị cục Thi hành án dân sự quâ ̣n Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ