- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng” của Ngân hàng TMCP N Việt Nam, đơn đề ngày 12/01/2018.
- Căn cứ chính? Điều 357 Bộ luật Dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM TỈNH KON TUM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2018/KDTM-ST Ngày: 12-6-2018 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Toàn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Danh Hương.
2. Bà Lê Thị Ngọc Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hà Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum tham gia phiên toà: Bà Lưu Thị Lý – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 06/2018/TLST-KDTM ngày 29 tháng 01 năm 2018 về “tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2018/QĐXXST-KDTM ngày 27 tháng 4 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP N Việt Nam.
Địa chỉ: 198 Trần Quang K, quận Hoàn K, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nghiêm Xuân T; chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Ông Nghiêm Xuân Thành ủy quyền cho ông Lê Tấn L; chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP N Việt Nam – Chi nhánh Kon T tham gia tố tụng (Văn bản ủy quyền đề ngày 25/4/2016).
Ông Lê Tấn L ủy quyền cho ông Nguyễn Sĩ H; chức vụ: Phó trưởng phòng giao dịch Trần P, Ngân hàng TMCP N Việt Nam – Chi nhánh Kon T tham gia tố tụng (Văn bản ủy quyền đề ngày 12/01/2018). (Có mặt).
Địa chỉ: Số 348 Trần Hưng Đ, thành phố Kon T, tỉnh Kon Tum.
2. Bị đơn: - Bà Vũ Thị N, sinh năm 1984. (Vắng mặt).
- Ông Lê Mạnh T, sinh năm 1983. (Vắng mặt),
Cùng địa chỉ: Thôn 9, xã Đắk C, thành phố Kon T, tỉnh Kon Tum.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/01/2018 và trong quá trình xét xử, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP N Việt Nam trình bày:
Vào ngày 30/3/2017, Ngân hàng TMCP N Việt Nam – Chi nhánh Kon T – Phòng giao dịch Trần P (Ngân hàng) và bà Vũ Thị N, ông Lê Mạnh T ký kết Hợp đồng cho vay từng lần ngắn hạn số 368/17/KT.TP. Theo đó, bà N và ông Tvay của Ngân hàng số tiền là 930.000.000 đồng; thời hạn cho vay là 9 tháng (kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân vốn vay – ngày 30/3/2017); mục đích sử dụng tiền vay là kinh tế phụ gia đình (kinh doanh nông sản); lãi suất cho vay trong hạn là 8,5%/năm; lãi suất quá hạn là 12,75%/năm.
Để đảm bảo cho Hợp đồng nêu trên, vào ngày 30/3/2017, Ngân hàng TMCP N Việt Nam – Chi nhánh Kon Tum – Phòng giao dịch Trần Phú (Ngân hàng) và bà Vũ Thị N, ông Lê Mạnh T đã ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 30/03/NHNT. Theo đó, bà N và ông T đã thế chấp quyền sử dụng đất đối với diện tích 272m2, thuộc thửa đất số 441, tờ bản đồ số 56 tại thôn 9, xã Đắk C, thành phố Kon T, tỉnh Kon Tum (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 266805 do Uỷ ban nhân dân thành phố Kon T cấp ngày 16/5/2013 mang tên ông Lê Mạnh T).
Trong quá trình thực hiện Hợp đồng cho vay từng lần ngắn hạn, bà N và ông T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Nay yêu cầu Tòa án buộc bà Vũ Thị N và ông Lê Mạnh T trả cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày 12/6/2018 tổng cộng là 990.542.465 đồng. Trong đó, 900.000.000 đồng tiền gốc, 73.356.164 đồng tiền lãi vay, 17.186.301 đồng tiền lãi phạt và toàn bộ các khoản phí phát sinh cho đến khi bà Vũ Thị N và ông Lê Mạnh T thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng. Trường hợp bà N và ông Tkhông thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng đề nghị xử lý tài sản bảo đảm của bà Vũ Thị N và ông Lê Mạnh T theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 30/03/NHNT ngày 30/3/2017 đã ký kết với Ngân hàng để thu hồi nợ.
Bị đơn bà Vũ Thị N và ông Lê Mạnh T đã được Tòa án thông báo, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn cố tình không đến tòa án để làm việc và vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã tuân thủ, chấp hành đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn bà Vũ Thị N và ông Lê Mạnh T dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Bà N và ông T đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 4 Luật thương mại, các Điều 280, 298, 299, 317, 323, 357, 463, 466, 470 và 500 Bộ luật Dân sự 2015, các Điều 95 và 98 Luật tổ chức tín dụng.
Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của Ngân hàng TMCP N Việt Nam. Buộc bà Vũ Thị N và ông Lê Mạnh T trả cho Ngân hàng TMCP N Việt Nam – Chi nhánh Kon T số tiền tổng cộng là 990.542.465 đồng. Trong đó, 900.000.000 đồng tiền gốc, 73.356.164 đồng tiền lãi vay, 17.186.301 đồng tiền lãi phạt. Trường hợp bà N và ông Tkhông thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng được thực hiện việc xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất theo hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
Theo Hợp đồng cho vay từng lần ngắn hạn số 368/17/KT.TP ngày 30/3/2017, bà Vũ Thị N và ông Lê Mạnh T có vay của Ngân hàng TMCP N Việt Nam – Chi nhánh Kon T – Phòng giao dịch Trần P số tiền là 930.000.000 đồng với mục đích sử dụng tiền vay là kinh tế phụ gia đình (kinh doanh hàng nông sản); thời hạn cho vay là 09 tháng (kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân vốn vay - ngày 30/3/2017); lãi suất cho vay là 8,5%/năm; lãi suất quá hạn là 12,75%/năm. Xét thấy, đây là hợp đồng vay tài sản có thời hạn và có lãi. Để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng cho vay từng lần ngắn hạn nêu trên, vào ngày 30/3/2017, Ngân hàng TMCP N Việt Nam – Chi nhánh Kon T với bà Vũ Thị N và ông Lê Mạnh T đã ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 30/3/NHNT. Theo đó, bà N và ông T đã thế chấp quyền sử dụng đất đối với diện tích 272m2, thuộc thửa đất số 441, tờ bản đồ số 56 tại thôn 9, xã Đắk C, thành phố Kon T, tỉnh Kon Tum (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 266805 do Uỷ ban nhân dân thành phố Kon T cấp ngày 16/5/2013 mang tên ông Lê Mạnh T). Tài sản đã được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 30/3/2017 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Kon T, tỉnh Kon Tum.
Trong quá trình thực hiện Hợp đồng cho vay từng lần ngắn hạn, bà Vũ Thị N và ông Lê Mạnh T đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền của bên vay theo quy định tại các Điều 280 và 466 Bộ luật Dân sự. Do đó, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP N Việt Nam là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 30 và khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Bà Vũ Thị N và ông Lê Mạnh T phải trả cho Ngân hàng TMCP N Việt Nam – Chi nhánh Kon T số tiền tổng cộng là 990.542.465 đồng (Chín trăm chín mươi triệu, năm trăm bốn mươi hai nghìn, bốn trăm sáu mươi lăm đồng). Trong đó, nợ gốc là 900.000.000 đồng (Chín trăm triệu đồng), 73.356.164 đồng (Bảy mươi ba triệu, ba trăm năm mươi sáu nghìn, một trăm sáu mươi bốn đồng) tiền lãi vay và 17.186.301 đồng (Mười bảy triệu, một trăm tám mươi sáu nghìn, ba trăm lẻ một đồng) tiền lãi phạt.
Trường hợp bà Vũ Thị N và ông Lê Mạnh T không trả đúng, đủ số tiền nêu trên cho Ngân hàng TMCP N Việt Nam - Chi nhánh Kon T thì theo quy định tại các Điều 298, 299, 317 và 323 Bộ luật Dân sự, tài sản thế chấp nói trên sẽ được xử lý để thu hồi nợ cho Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Kon T.
Đối với bị đơn bà Vũ Thị N và ông Lê Mạnh T đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ các văn bản tố tụng của vụ án nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Như vậy, bà N và ông T đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xử vắng mặt bị đơn theo quy định.
Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Đơn khởi kiện của Ngân hàng TMCP N Việt Nam được chấp nhận nên bị đơn bà Vũ Thị N và ông Lê Mạnh T phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 35 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng” của Ngân hàng TMCP N Việt Nam, đơn đề ngày 12/01/2018.
Áp dụng khoản 3 Điều 4 Luật thương mại năm 2005; các Điều 280, 298, 299, 317, 323, 357, 463, 466, 468, 470, 500 Bộ luật dân sự 2015.
Xử:
Buộc bà Vũ Thị N và ông Lê Mạnh T trả cho Ngân hàng TMCP N Việt Nam - Chi nhánh Kon T số tiền tổng cộng là 990.542.465 đồng (Chín trăm chín mươi triệu, năm trăm bốn mươi hai nghìn, bốn trăm sáu mươi lăm đồng). Trong đó, nợ gốc là 900.000.000 đồng (Chín trăm triệu đồng), 73.356.164 đồng (Bảy mươi ba triệu, ba trăm năm mươi sáu nghìn, một trăm sáu mươi bốn đồng) tiền lãi vay và 17.186.301 đồng (Mười bảy triệu, một trăm tám mươi sáu nghìn, ba trăm lẻ một đồng) tiền lãi phạt.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật mà bà Vũ Thị N và ông Lê Mạnh T không trả đúng hoặc trả đủ số tiền nêu trên cho Ngân hàng TMCP N Việt Nam
- Chi nhánh Kon T thì tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 30/3/NHNT ngày 30/3/2017 là quyền sử dụng đất đối với diện tích 272m2, thuộc thửa đất số 441, tờ bản đồ số 56 tại thôn 9, xã Đắk C, thành phố Kon T, tỉnh Kon Tum (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 266805 do Uỷ ban nhân dân thành phố Kon T cấp ngày 16/5/2013 mang tên ông Lê Mạnh T) sẽ được xử lý để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
Áp dụng án lệ số 08/2016/AL về xác định lãi suất, việc điều chỉnh lãi suất trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao).
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, Ngân hàng TMCP N Việt Nam – Chi nhánh Kon Tum có quyền yêu cầu thi hành án. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Vũ Thị N và ông Lê Mạnh T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong Hợp đồng cho vay từng lần ngắn hạn, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng TMCP N Việt Nam – Chi nhánh Kon T thì lãi suất mà bà N và ông T phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng TMCP N Việt Nam – Chi nhánh Kon T theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng TMCP N Việt Nam – Chi nhánh Kon T.
Về án phí: Áp dụng các Điều 144 và 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 6, 18, 19, khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bà Vũ Thị N và ông Lê Mạnh T phải chịu 41.716.273 đồng (Bốn mươi mốt triệu, bảy trăm mười sáu nghìn, hai trăm bảy mươi ba đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP N Việt Nam 20.150.000 đồng(Hai mươi triệu, một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001135 ngày 26/01/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Kon Tum.
Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Căn cứ các Điều 156, 157 và 158 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Bà Vũ Thị N và ông Lê Mạnh T phải chịu 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Bà N và ông T phải hoàn trả cho Ngân hàng TMCP N Việt Nam – Chi nhánh Kon Tum 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đã nộp tại Tòa án.
Căn cứ khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015;
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và Ngân hàng TMCP N Việt Nam – Chi nhánh Kon Tum có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền này mà bà Vũ Thị N và ông Lê Mạnh T không thi hành đủ khoản tiền nêu trên thì hàng tháng bà N và ông T còn phải chịu lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành án.
Căn cứ các Điều 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 12/6/2018), nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án theo trình tự phúc thẩm. Riêng bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại UBND xã, phường nơi cư trú.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo khoản 2 Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh KonTum; - VKSND TP KonTum; - Chi cục THADS.TP KonTum; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đỗ Văn Toàn |