- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh Tuấn phạm tôi Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương t…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Vi phaïm quy ñònh veà ñieàu khieån phöông tieän giao thoâng ñöôøng bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 108 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 202 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2018/HSST Ngày 13/03/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Tùng Chinh
Ông Vi Quốc Thanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Lăng – Thƣ ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Bửu - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc tỉnh Bến Tre, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2018/HSST ngày 02 tháng 02 năm 2018 theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 02/2018/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh T, sinh năm 1988, tại Bến Tre; Nơi cƣ trú: ấp S, xã S, huyện C, tỉnh B; Nghề nghiệp: tài xế; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Nguyễn Ngọc Y và bà Huỳnh Mỹ H; Tiền án, tiền sự: không; bị cáo đƣợc điều tra tại ngoại. Bị cáo có mặt tại tòa.
- Đại diện hợp pháp của ngƣời bị hại: Võ Tấn P, sinh năm 1974; Trú tại: ấp T, xã T, huyện Mỏ C, tỉnh B.
- Nguyên đơn dân sự: Võ Công N, sinh năm 1981; Trú tại: ấp T, xã T, huyện Mỏ C, tỉnh B.
- Bị đơn dân sự: Trần Huỳnh T, sinh năm 1979; Trú tại: ấp T, xã P, huyện M, tỉnh B.
NHẬN THẤY
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 26/7/2017, Nguyễn Thanh T điều khiển xe ôtô tải biển kiểm soát 71C-010.58 chở 167 bình gas lƣu thông trên Quốc lộ 57, theo hƣớng từ ngã ba Cây Trâm về huyện Mỏ Cày Nam. Khi đến khu vực ấp T xã T, huyện M, tỉnh B do vƣợt không đúng quy định nên kính chiếu hậu bên phải xe ô tô dụng nón bảo hiểm của Võ Công N đang điều kiển xe máy biển kiểm soát 71FK-6471 cùng chiều làm xe ngã, bà Nguyễn Thị N ngồi phía sau xe máy của N bị bánh sau xe ô tô tải của T cán tử vong.
* Theo biên bản khám nghiệm hiện trƣờng lúc 14 giờ ngày 26/7/2017 của Công an huyện Mỏ Cày Bắc ghi nhận nhƣ sau:
Hiện trƣờng khám nghiệm là một đoạn đƣờng thẳng, trãi nhựa, rộng 5,80 mét. Trụ km 44+700 đƣợc chọn làm mốc cố định, việc khám nghiệm hiện trƣờng đƣợc tiến hành từ ngã ba Bƣng Cát về huyện Mỏ Cày Nam (hƣớng Bắc đi hƣớng Nam), kẻ tim đƣờng thành hai phần bằng nhau, các dấu vết thu thập đƣợc đo vào tim đƣờng.
- Vết cày 1 có dạng đƣờng thẳng, dài 2,90 mét, điểm đầu nằm trên phần đƣờng bên phải, điểm cuối nằm ngoài lề phải, chiều hƣớng từ Bắc đi Nam, điểm đầu cách tim đƣờng 2,65 mét, điểm cuối cách tim đƣờng 3,45 mét.
- Vết cày 2 có dạng đƣờng thẳng, dài 1,90 mét, điểm đầu nằm trên phần đƣờng bên phải, điểm cuối nằm ngoài lề phải, lệch hƣớng Nam so với điểm đầu vết cày 1, chiều hƣớng từ Bắc đi Nam, điểm đầu cách điểm đầu vết cày (1) là 1,60 mét, cách tim đƣờng 2,35 mét, điểm cuối cách tim đƣờng 2,95 mét.
- Vết ma sát có dạng đƣờng thẳng, dài 2,90 mét, rộng 0,50 mét, nằm trên phần đƣờng bên phải, lệch về hƣớng Nam so với điểm đầu vết cày 2, chiều hƣớng từ Bắc đi Nam, trên vết ma sát có máu và não, điểm đầu vết ma sát cách điểm đầu vết cày 2 là 0,80 mét, cách tim đƣờng 1,70 mét, điểm cuối cách tim đƣờng 2,05 mét.
- Xe gắn máy BKS 71FK-6471 ngã nghiêng sang trái, trục sau nằm trên phần đƣờng bên phải, lệch về hƣớng Nam so với đầu vết cày (2), cách đầu vết cày (2) là 1,10 mét, cách tim đƣờng 2,90 mét, trục trƣớc nằm ngoài lề phải, lệch về hƣớng Nam so với trục sau, cách tim đƣờng 3,90 mét.
- Nạn nhân Nguyễn Thị N nằm trên phần đƣờng bên phải, nằm nghiêng sang phải, lệch về hƣớng Nam so với xe gắn máy, đầu nạn nhân hƣớng về Nam, cách trục trƣớc xe gắn máy là 2,25 mét, cách tim đƣờng 2,05 mét, chân trái hƣớng về Bắc, bàn chân trái cách tim đƣờng 1,45 mét.
- Vết máu nạn nhân hình dạng không xác định, kích thƣớc 2,00 x 0,50 mét, lệch về hƣớng Nam so với điểm đầu vết ma sát (3), chiều hƣớng từ Tây đi Đông (từ đầu nạn nhân ra tim đƣờng), tâm cách đầu vết ma sát (3) là 2,70 mét, cách tim đƣờng 1,00 mét.
- Xe ôtô BKS 71C-010.58 đỗ trên phần đƣờng bên phải, lệch về hƣớng Nam so với xe gắn máy, trục sau bên trái nằm đè lên tim đƣờng, trục trƣớc bên trái lệch về hƣớng Nam so với trục sau, cách tim đƣờng 0,15 mét, trục sau bên phải cách trục trƣớc xe gắn máy là 16,20 mét, cách đầu nạn nhân là 14,80 mét.
- Trụ km 44+700 trên Quốc lộ 57 nằm ngoài lề phải lệch về hƣớng Nam so với xe ôtô và cách trục trƣớc bên phải xe ôtô là 3,50 mét đƣợc chọn làm mốc cố định của hiện trƣờng.
* Theo biên bản khám nghiệm phƣơng tiện xe máy BKS 71FK-6471 lúc 14 giờ 50 phút ngày 26/7/2017 của Công an huyện Mỏ Cày Bắc ghi nhận:
- Gƣơng chiếu hậu bên phải bị xoay lệch từ trƣớc ra sau, từ ngoài vào trong.
- Gƣơng chiếu hậu bên trái bị tụt mất phần vỏ gƣơng và gƣơng soi, càng gƣơng bị xoay từ sau ra trƣớc, từ ngoài vào trong.
- Tay cầm bên trái mặt ngoài phía trƣớc có vết ma sát mài mòn mới, đầu tay cầm bị cong từ trƣớc ra sau và có dấu ma sát mài mòn mới.
- Chắn bùn của bánh trƣớc mặt ngoài bên trái đầu trƣớc có nhiều vết ma sát trầy xƣớc mới.
- Ốp phuộc trƣớc bên trái mặt ngoài có dấu vết ma sát trầy xƣớc mới.
- Gát chân trƣớc bên trái bị cong từ trƣớc ra sau, đầu có vết mài mòn mới.
- Hệ thống đèn, còi, phanh có tác dụng.
* Theo biên bản khám nghiệm phƣơng tiện xe ôtô tải BKS 71C-010.58 lúc 08 giờ 35 phút ngày 27/7/2017 của Công an huyện Mỏ Cày Bắc ghi nhận:
- Gƣơng chiếu hậu bên phải bị xoay từ trƣớc ra sau, từ ngoài vào trong, mặt ngoài càng gƣơng có dấu vết ma sát trầy xƣớc mới, kích thƣớc 1,5cm x 0,1cm, thấp nhất cách đất 136,5cm, gần nhất cách trục trƣớc bên phải là 115 cm.
- Gƣơng chiếu hậu bên trái bị xoay từ trƣớc ra sau, từ ngoài vào trong, mặt ngoài vỏ gƣơng có dấu vết ma sát trầy xƣớc mới, kích thƣớc 10cm x 10cm, thấp nhất cách đất 160cm, gần nhất cách trục trƣớc bên trái 132cm.
- Thành thùng bên phải mặt ngoài có dấu vết ma sát trầy xƣớc, móp thụng mới, kích thƣớc 2,5cm x 0,6cm, thấp nhất cách đất 103,5cm, gần nhất cách trục trƣớc bên phải 194cm.
- Cảng của thành xe bên phải dài 250cm, cao 55cm, thấp nhất cách đất 31cm, gần nhất cách trục trƣớc bên phải 64cm, gần nhất cách trục sau bên phải 68cm, mặt ngoài cảng có dấu vết ma sát mất bụi kích thƣớc 06 x 10cm, thấp nhất cách đất 55cm, cao nhất cách đất 65cm, gần nhất cách trục trƣớc bên phải 165,5cm.
- Chắn bùn bánh sau bên phải mặt trong dính nhiều dung dịch máu và não.
- Lốp bánh sau bên phải mặt ngoài dính nhiều dung dịch máu và não, kích thƣớc 25 x 40cm, gần nhất cách chân chữ “J” trong dòng chữ “JINGU” là 4,5cm, gần nhất cách trục 36cm.
- Hệ thống lái, phanh, côn, ga, số, đèn, còi, gƣơng hoạt động bình thƣờng.
* Theo bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 109/TT ngày 07/8/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Bến Tre kết luận nguyên nhân tử vong của nạn nhân Nguyễn Thị N, sinh năm 1936, ĐKTT ấp T, xã T, huyện M, tỉnh B do chấn thƣơng sọ não gây vỡ xƣơng hộp sọ, dập não.
* Theo biên bản tạm giữ nón bảo hiểm của Võ Công N ngày 26/7/2017 của Công an huyện Mỏ Cày Bắc ghi nhận bên trái nón bảo hiểm có 02 vùng trầy xƣớc:
- Vùng trầy xƣớc thứ nhất có kích thƣớc 06 x 05cm, điểm gần nhất cách tâm ốc gắn kính chắn gió bên trái là 7,7cm, cách chữ “H” của dòng chữ “HONDA YAMAHA –BA KHƢƠNG” là 14,6cm.
- Vùng trầy xƣớc thứ hai có kích thƣớc 05 x 2,5cm, điểm gần nhất cách chữ “H” của dòng chữ “HONDA YAMAHA –BA KHƢƠNG” là 05cm, cách tâm của ốc gắn kính chắn gió bên trái là 5,9cm.
* Theo biên bản về việc cân trọng lƣợng hàng hóa trên xe ôtô tải BKS 71C-010.58 ngày 27/7/2017 của Công an huyện Mỏ Cày Bắc ghi nhận trên xe có 149 bình gas chứa nhiên liệu, mỗi bình nặng 25kg và 18 bình gas không chứa nhiên liệu, mỗi bình nặng 14kg. Tổng trọng lƣợng các bình gas là 3.977kg.
* Theo giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô số 000341 ngày 28/4/2012 của Công an tỉnh Bến Tre đối với xe ôtô tải BKS 71C-010.58 ghi nhận tải trọng hàng hóa cho phép là 3.400kg.
* Theo kết luận giám định số 3364/1/C54B ngày 23/10/2017 của Phân Viện khoa học hình sự - Tổng cục cảnh sát tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
- Hệ thống phanh chính của xe ôtô biển số 71C-010.58 thuộc loại phanh thủy lực trợ lực chân không. Phanh đỗ thuộc loại cơ khí tác động hệ truyền lực. Các cụm chi tiết đầy đủ, lắp đặt đúng vị trí. Hiện tại, hệ thống phanh hoạt động bình thƣờng, không bị hƣ hỏng do sự cố kỹ thuật.
- Trƣớc và trong khi tham gia tai nạn giao thông hệ thống phanh trên xe ôtô biển số 71C-010.58 không bị hƣ hỏng do sự cố kỹ thuật.
* Theo kết luận giám định số 3364/C54B ngày 03/11/2017 của Phân Viện khoa học hình sự - Tổng cục cảnh sát tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
- Không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe ôtô biển số 71C-010.58 với xe máy biển số 71FK-6471 khi tham gia tai nạn giao thông.
- Dấu vết trƣợt xƣớc bám chất màu xanh mặt ngoài phía trƣớc cần gƣơng chiếu hậu bên phải xe ôtô biển số 71C-010.58 có chiều từ trƣớc về sau phù hợp với dấu vết trƣợt xƣớc mất sơn màu xanh mặt ngoài phía trên bên trái mũ bảo hiểm ghi thu của Võ Công N có chiều từ sau về trƣớc.
Tại bản cáo trạng số 02/KSĐT-KT ngày 31/01/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về “ Vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ” theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999.
Tại phiên tòa:
- Đại diện hợp pháp của ngƣời bị hại Võ Tấn P trình bày: Bà Nguyễn Thị N sau khi tử vong bị cáo Nguyễn Thanh T và anh Trần Huỳnh Tấn L có đến nhà chúng tôi chia buồn và anh L có bồi thƣờng cho gia đình tôi chi phí cấp cứu, mai táng, tiền tổn thất tinh thần là 95.000.000 đồng. Nay anh P không yêu cầu bị cáo T bồi thƣờng thêm và xin Hội đồng xét xử miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo T.
- Nguyên đơn dân sự Võ Công N trình bày: Vào ngày 26/7/2017 anh N chở bà nội là bà Nguyễn Thị N đi từ hƣớng Tân Bình về Ngã Ba Bƣng Cát có xe ôtô chạy phía sau anh N, khi xe đi ngang xe anh thì anh N nghe có lực hút làm xe của anh N đang điều khiển bị ngã bà N ngồi phía sau té ra lộ, bánh sau xe ôtô cán bà N làm bà N tử vong. Anh N bị xay sát nhẹ. Anh N đã nhận của anh L 5.000.000 đồng tiền mất thu nhập, nay anh N không yêu cầu bồi thƣờng thêm.
- Bị đơn dân sự Trần Huỳnh Tấn L trình bày: Sau khi T gây tai nạn thì T có gọi điện về báo, sau đó T gọi về nói anh L phụ lo cho phía gia đình bị hại. Anh Lthấy mình là chủ xe nên đã thỏa thuận với gia đình bà N chi phí cấp cứu, mai táng, tiền tổn thất tinh thần của gia đình bà Ntlà 95.000.000 đồng. Tiền mất thu nhập của anh N là 5.000.000 đồng. Nay anh L không yêu cầu bị cáo T hoàn trả cho anh L số tiền nêu trên.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận: bị cáo T khai nhận hhoảng 13 giờ 30 phút ngày 26/7/2017, Tuấn điều khiển xe ôtô tải biển kiểm soát 71C-010.58 chở 167 bình gas lƣu thông trên Quốc lộ 57, theo hƣớng từ ngã ba Cây Trâm về huyện Mỏ Cày Nam. Khi đến khu vực ấp T xã T, huyện M, tỉnh B do vƣợt không đúng quy định nên kính chiếu hậu bên phải xe ôtô đụng nón bảo hiểm của Võ Công Nđang điều kiển xe máy biển kiểm soát 71FK-6471 cùng chiều làm xe ngã, bà Nguyễn Thị N ngồi phía sau xe máy của N bị bánh sau xe ô tô tải của T cán tử vong. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo T về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ”.
Quá trình điều tra xác định Nguyễn Thanh T có giấy phép lái xe hạng C, số 830167006058 cấp ngày 12/10/2016 có giá trị đến ngày 12/10/2021, Nguyễn Thanh T có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đồng thời nhờ anh Trần Huỳnh Tấn L chủ phƣơng tiện xe ôtô biển số 71C-010.58 bồi thƣờng xong các khoản chi phí hợp lệ cho ngƣời đại diện hợp pháp bị hại, ngƣời liên quan, có ông nội là liệt sĩ, cha ruột tham gia nghĩa vụ quốc tế tại Campuchia, là lao động chính trong gia đình và đang nuôi con nhỏ, ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại có đơn bãi nại, xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm b, p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù nhƣng cho bị cáo hƣởng án treo thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.
Vật chứng: Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Mỏ Cày Bắc đã trả xe ôtô tải BKS 71C-010.58 cho anh Trần Huỳnh Tấn L, xe máy BKS 71FK-6471 cho anh Võ Công N. Tịch thu tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm màu đen, có sọc màu xanh, phía sau có chữ “HONDA YAMAHA –BA KHƢƠNG”.
Phần dân sự: Anh Trần Huỳnh Tấn L là chủ phƣơng tiện xe ôtô tải BKS 71C-010.58 đã thỏa thuận bồi thƣờng xong chi phí cấp cứu, mai táng, tiền tổn thất tinh thần cho ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị N tổng số tiền 95.000.000 đồng và chi phí sửa xe, tiền ngày công lao động cho anh Võ Công N số tiền 5.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp cho bị hại và ngƣời liên quan không có yêu cầu gì khác. Đề nghị tòa án ghi nhận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thấy lỗi của mình gây ra cho bị hại và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện Mỏ Cày Bắc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, đại diện hợp pháp của ngƣời bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh T thừa nhận hành vi khoảng 13 giờ 30 phút ngày 26/7/2017, Nguyễn Thanh T điều khiển xe ôtô tải biển kiểm soát 71C-010.58 lƣu thông trên Quốc lộ 57, theo hƣớng từ ngã ba Cây Trâm về huyện Mỏ Cày Nam. Khi đến khu vực ấp T, xã T, huyện M, tỉnh B do vƣợt không đúng quy định nên kính chiếu hậu bên phải xe ôtô đụng nón bảo hiểm của Võ Công N điều kiển xe máy biển kiểm soát 71FK-6471 cùng chiều làm xe ngã, bà Nguyễn Thị N ngồi phía sau xe máy của Nhựt bị bánh sau xe ôtô tải của T cán tử vong. Bị cáo N trong lúc điều khiển xe không tuân thủ đúng quy định của luật giao thông đƣờng bộ, cụ thể là bị cáo tránh vƣợt không đảm bảo khoảng cách an toàn, nên đã vi phạm vào đã vi phạm vào khoản 2 điều 14 ;điểm a khoản 2 điều 72 Luật giao thông đƣờng bộ. Cũng từ hành vi đó đã tƣớc tính mạng của bà N, làm ảnh hƣởng xấu đến tình hình trật tự giao thông công cộng, làm cho nhân dân không an tâm sinh hoạt, đi lại nhất là khi tham gia giao thông. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, lỗi của bị cáo trong vụ án này là vô ý. Bị cáo T đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh T đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ” theo khoản 1 điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999.
Tuy nhiên, xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho thấy: bị cáo có nhân thân tốt thể hiện việc bị cáo không có tiền án, tiền sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn; đồng thời đại diện gia đình bị hại bà Nguyễn Thị N có đề nghị Tòa án miễn trách nhiệm hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có ông nội là Nguyễn Minh H là liệt sĩ, bị cáo là lao động chính trong gia đình mẹ trên 60 tuổi đang bị bệnh nan y, con còn nhỏ (15 tháng). Do đó, cần cho bị cáo đƣợc hƣởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét thấy hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Nguyễn Thanh T không cần thiết phải cách ly bị cáo với bên ngoài xã hội mà giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã nơi bị cáo cƣ trú và gia đình giám sát giáo dục bị cáo cũng đủ cho bị cáo cải tạo thành công dân có ít cho xã hội.
Về trách nhiệm dân sự và biện pháp tƣ pháp: Anh Trần Huỳnh Tấn L là chủ phƣơng tiện xe ôtô tải BKS 71C-010.58 đã thỏa thuận bồi thƣờng xong chi phí cấp cứu, mai táng, tiền tổn thất tinh thần cho ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị N tổng số tiền 95.000.000 đồng và chi phí sửa xe, tiền ngày công lao động cho anh Võ Công N số tiền 5.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp cho bị hại và ngƣời liên quan không có yêu cầu gì khác nên ghi nhận.
Về xử lý vật chứng và các tài sản khác:
Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Mỏ Cày đã trả xe ôtô tải BKS 71C-010.58 cho anh Trần Huỳnh Tấn L, xe máy BKS 71FK-6471 cho anh Võ Công N đúng quy định của pháp luật nên tòa ghi nhận. 01 mũ bảo hiểm màu đen, có sọc màu xanh, phía sau có chữ “HONDA YAMAHA –BA KHƢƠNG” trong quá trình giải quyết cũng nhƣ tại phiên tòa anh Võ Công Nhựt không yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy.
Luận tội và tranh luận của Kiểm sát viên đã cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để đề nghị mức hình phạt là thỏa đáng, đề nghị giải quyết các vấn đề khác là phù hợp quy định của pháp luật nên đƣợc chấp nhận.
Về án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải nộp theo quy định tại Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Vi phaïm quy ñònh veà ñieàu khieån phöông tieän giao thoâng ñöôøng bộ”.
[1] Áp dụng khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm b, p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 09 tháng tù. Nhƣng cho bị cáo hƣởng án treo thời gian thử thách là 18 tháng , thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 13/3/ 2018).
Giao bò caùo Nguyễn Thanh T cho Uyû ban nhaân daân xaõ S, huyeän C, tỉnh B phoái hôïp cuøng gia ñình bò caùo giaùm saùt giaùo duïc bò caùo trong thôøi gian thử thách.
Trƣờng hợp bị cáo thay đổi nơi cƣ trú thì phải thông báo cho Ủy Ban nhân xã nơi bị cáo cƣ trú để Ủy ban nhân dân xã thông báo cho Cơ quan thi hành án hình sự theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
[2] Về trách nhiệm dân sự và biện pháp tƣ pháp: Anh Trần Huỳnh Tấn L bồi thƣờng xong chi phí cấp cứu, mai táng, tiền tổn thất tinh thần cho ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị N tổng số tiền 95.000.000 đồng và chi phí sửa xe, tiền ngày công lao động cho anh Võ Công N số tiền 5.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp cho bị hại và ngƣời liên quan không có yêu cầu gì khác nên tòa ghi nhận.
[3] Về xử lý vật chứng và các tài sản khác: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 108 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Ghi nhận Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Trần Huỳnh Tấn L xe ôtô tải BKS 71C-010.58, xe máy BKS 71FK-6471 cho anh Võ Công N. Tịch thu tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm màu đen, có sọc màu xanh, phía sau có chữ “HONDA YAMAHA –BA KHƢƠNG”.
[4] Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội: bị cáo Nguyễn Thanh T phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm;
Bị cáo, đại diện gia đình bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Mỏ Cày Bắc (1b); - CA huyện Mỏ Cày Bắc (2b) (để giao cho bị cáo 1b); - Phòng HSNV CA tỉnh Bến Tre (1b); - Chi Cục THADS huyện Mỏ Cày Bắc (1b); - Sở Tƣ pháp tỉnh Bến Tre (1b); - UBND xã Thanh Tân (1b); - Bị hại, ngƣời có Ql và NV liên quan (13b); - Lƣu: HS; VP; KTNV(5b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Võ Thị Hồng Thúy |