- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Thanh T bị truy tố về tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hà Thanh T (tên gọi khác: T L) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2018/HSST Ngày: 02/02/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vũ Kim Quy.
2. Ông Phạm Thế Chiến.
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Lợi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Ana.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Nghĩa - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 02 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, xét xử C1 khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 01/2018/TLST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2018/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:
Hà Thanh T (tên gọi khác: T L), sinh ngày 10 tháng 11 năm 1982 tại huyện K, tỉnh Đăk Lăk; nơi cư trú: Số nhà 55 đường Hoàng Văn T1, tổ dân phố 4, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Mường; con ông Hà Văn M (đã chết) và bà Phan Thị H, sinh năm 1959. Bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Có 02 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Nhân thân: Ngày 23/7/2012 bị Tòa án nhân dân huyện K xử phạt 07 tháng tù về hành vi trộm cắp tài sản, tại bản án hình sự sơ thẩm số 22/2012/HSST, bị cáo đã được xóa án tích. Ngày 02/11/2017 bị C1 an thị trấn B, huyện K xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, theo Quyết định số 157/QĐ-XPHC. Ngày 16/11/2017 bị Ủy ban nhân dân thị trấn B ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, theo Quyết định số 327/QĐ-UBND. Ngày 16/11/2017 thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/11/2017 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người chứng kiến: Anh Nguyễn Phong C, sinh năm 1985
Tạm trú: Tổ dân phố 2, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đăk Lăk. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 16/11/2017, Hà Thanh T, trú tại tổ dân phố 4, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đăk Lăk, đón xe Buýt đi từ thị trấn B, huyện K đến khu vực đường Phạm Ngũ L, phường Thành C1, Tp. B1, tỉnh Đăk Lăk để mua ma túy sử dụng. Tại đây, T tìm và mua ma túy của một người đàn ông khoảng 30 tuổi (không xác định được nhân thân) với số tiền 1.400.000đ (một triệu bốn trăm nghìn đồng), người đàn ông này đưa cho T 07 gói nhựa màu trắng. Sau đó T đón xe Buýt về nhà của mình ở thị trấn B. Đến khoảng hơn 21 giờ ngày 16/11/2017, T đến nhà trọ của Nguyễn Phong C ở tổ dân phố 2, thị trấn B chơi. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày khi T vừa ra khỏi nhà trọ của anh C thì bị công an huyện bắt giữ, thu giữ trong túi quần bên phải phía trước của Hà Thanh T 07 gói nhựa màu trắng, bên trong có chứa chất dạng tinh thể màu trắng, T khai nhận đó là ma túy đá.
Tại kết luận giám định số 02/GĐMT-PC45 ngày 21/11/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Đăk Lăk kết luận: Chất dạng tinh thể màu trắng đựng trong 07 (bảy) gói nhựa màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng là 1,6161 gam, loại Methamphetamine.
Tại phiên tòa bị cáo Hà Thanh T khai nhận: Bị cáo là người nghiện ma túy, chiều ngày 16/11/2017, bị cáo, đón xe Buýt đi từ thị trấn B, huyện K đến khu vực đường Phạm Ngũ L, Tp. B1, tỉnh Đăk Lăk để mua ma túy về sử dụng. Tại đây, bị cáo mua ma túy của một người đàn ông khoảng 30 tuổi với số tiền 1.400.000đ (một triệu bốn trăm nghìn đồng), người đàn ông này đưa cho bị cáo 07 gói nhựa màu trắng. Sau đó bị cáo đón xe Buýt về nhà của mình ở thị trấn B. Đến khoảng hơn 21 giờ ngày 16/11/2017, bị cáo đến nhà trọ của bạn là Nguyễn Phong C ở thị trấn B chơi. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày khi ra về thì bị công an huyện K bắt giữ, thu giữ trong người bị cáo 07 gói ma túy đá. Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chât ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng do nghiện nên đã tàng trữ để sử dụng.
Cáo trạng số 01/KSĐT-HS ngày 02/01/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện K truy tố bị cáo Hà Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa sơ thẩm luận tội và tranh luận: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hà Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Hà Thanh T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu, tiêu hủy 1.4005 gam Methamphetamine (số lượng còn lại sau giám định).
Bị cáo Hà Thanh T nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét sự vắng mặt người chứng kiến anh Nguyễn Phong C tại phiên tòa không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án, căn cứ vào Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Bị cáo Hà Thanh T là người nghiện ma túy, ngày 16/11/2017 bị cáo đến thành phố B1 mua ma túy loại Methamphetamine của một người đàn ông chưa xác định được nhân thân lai lịch với số tiền 1.400.000đ (một triệu bốn trăm nghìn đồng) để sử dụng. Sau khi mua, bị cáo về lại thị trấn B, huyện K. Đến khoảng hơn 23 giờ ngày 16/11/2017, bị cáo bị công an huyện K kiểm tra hành chính thu giữ trong người bị cáo 07 gói nhựa màu trắng, kết quả giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có trọng lượng 1,6161 gam. Viện kiểm sát nhân dân huyện K truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là hoàn toàn có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Hà Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999 quy định:
1.“Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.”.....
Bị cáo Hà Thanh T thực hiện hành vi tàng trữ trái pháp chất ma túy trước ngày Bộ luật hình sự 2015 có hiệu lực pháp luật ngày 01/01/2018. Tuy nhiên Khoản 1 Điều 249 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của Bộ luật hình sự năm 2015 có quy định hình phạt nhẹ hơn khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự 1999 (một năm đến năm năm tù so với từ hai năm đến bảy năm tù). Quy định này có lợi cho người phạm tội, căn cứ vào điểm b Điều 2 Nghị Quyết số 41/2017/QH14 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7 của Bộ luật hình sự 2015. Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 249 BLHS 2015 để xét xử đối với bị cáo thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự.
Khoản 1 Điều 249 BLHS 2015 quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
…
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 5 gam”
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến trật tự quản lý Nhà nước về việc cất giữ, vận chuyển, trao đổi chất ma tuý, là nguyên nhân trực tiếp gây mất ổn định trị an xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, sức khoẻ con người, là nguyên nhân lây lan căn bệnh HIV – AIDS, gia tăng các tệ nạn xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người hoàn toàn bình thường về trí lực, buộc phải biết chất ma tuý được Nhà nước thống nhất quản lý, mọi hành vi mua bán, sử dụng, tàng trữ trái phép đều bị pháp luật nghiêm cấm. Nhưng do ý thức coi thường pháp luật, bị cáo đã tàng trữ trái phép 1,6161 gam Methamphetamine là chất ma tuý để sử dụng. Về nhân thân: năm 2012 bị Tòa án nhân dân huyện K xử phạt 07 tháng tù về hành vi trộm cắp tài sản, đã xóa án tích. Bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân, làm người lương thiện, mà tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, cụ thể: Ngày 02/11/2017 bị công an thị trấn B, huyện K xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 16/11/2017 bị Ủy ban nhân dân thị trấn B ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đến ngày 16/11/2017 thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và bị xử lý hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015 bị cáo được hưởng khi lượng hình.
Trong tình hình hiện nay, tình trạng sử dụng trái phép chất ma tuý ngày một gia tăng, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhiều gia đình, kéo theo các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nêu trên, cần áp dụng hình phạt tương xứng cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để trừng trị, giáo dục bị cáo nói riêng, đồng thời có tác dụng răng đe, phòng ngừa tội phạm chung.
Việc xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, cần tịch thu, tiêu hủy 1,4005 gam Methamphetamine (Số lượng còn lại sau giám định); 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy tổng hợp.
Về án phí: Buộc bị cáo Hà Thanh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm b Điều 2 Nghị Quyết số 41/2017/QH14 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7 của Bộ luật hình sự 2015; điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Hà Thanh T (tên gọi khác: T L) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Hà Thanh T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 17/11/2017.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy 1,4005 (một phẩy bốn không không năm) gam Methamphetamine là tang vật của vụ án; 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy tổng hơp (vật chứng có đặc điểm như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 03/01/2018 giữa Cơ quan Điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện K).
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Hà Thanh T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ĐăkLăk; - VKSND huyện; - CA huyện; - THAHS; THADS; - Lưu hồ sơ; Tòa án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM PHẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Tân |