vanban.org

Bản án 02/2018/HSPT — Hình sự

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 08/01/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 08/01/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của hai bị cáo Đồng Mạnh Th và Nguyễn Doãn Tr.

Xử phạt bị cáo Đồng Mạnh Th 11 (mười một) năm tù về tội giết người. Thời hạn tù tính từ ngày 15/7/2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Doãn Tr 12 (mười hai) năm tù về tội giết người. Thời hạn tù tính từ ngày 15/7/2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "ĐỒNG MẠNH TH - phạm tội giết người (điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của hai bị cáo Đồng Mạnh Th và Nguyễn Doãn Tr.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 20 Bộ luật Hình sự; Điều 33 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI HN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2018/HSPT
Ngày: 08/01/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HN

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Thanh.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đức Nhận;

Bà Đinh Thị Phượng.

Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Chuyền, thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại HN.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại HN tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Hưng, kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại HN xét xử công khai, phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 723/TL-PT ngày 28 tháng 9 năm 2017 đối với hai bị cáo Đồng Mạnh Th, Nguyễn Doãn Tr, do có kháng cáo của hai bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 218/2017/HSST ngày 27 tháng 7 năm 2017 của Tòa án nhân dân thành phố HN.

Các bị cáo có kháng cáo:

1. Đồng Mạnh Th, sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn PL, xã UN, huyện ĐA, thành phố HN; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Đồng Mạnh H và bà Nguyễn Thị D; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 22/3/2013 có hành vi cố ý gây thương tích, Công an thị thị trấn ĐA xử lý hành chính, theo danh chỉ bản số 000000307 ngày 18/7/2015 tại Công an huyện ĐA, thành phố HN; bị cáo đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/7/2015.

2. Nguyễn Doãn Tr, sinh năm 1996; Nơi cư trú: Thôn TO, xã TD, huyện ĐA, thành phố HN; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Nguyễn Doãn Ch và bà Ngô Thị Tr; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/7/2015.

Người bào chữa cho bị cáo Thành: Luật sư Nguyễn Quang T - Văn phòng luật sư ĐS và Cộng sự, thuộc Đoàn luật sư thành phố HN.

Người bào chữa cho bị cáo Trường: Luật sư Đinh Thị Kim Th - Công ty luật TNHH một thành viên BT, thuộc Đoàn luật sư thành phố HN.

Ngoài ra, trong vụ án còn có 06 bị cáo khác không kháng cáo, không bị kháng nghị, 04 người đại diện hợp pháp của người bị hại và 05 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Bản án hình sự sơ thẩm số 218/2017/HSST ngày 27/7/2017 của Tòa án nhân dân thành phố HN, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22h10' ngày 14/7/2015, Đồng Mạnh Th, Nguyễn Đăng S, Nguyễn Doãn Tr, Nguyễn Xuân T, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Thị Hải Y, Nguyễn Doãn Ph, Tạ Diệu L đi dự sinh nhật của Nguyễn Đăng S sau đó đến quán Karaoke của Bùi Văn L (sinh năm 1995) ở NC, VN, ĐA, HN hát tại phòng số 01. Tại phòng hát số 02 có các anh Nguyễn Hữu T (sinh năm 1976; trú tại: NC, VN, ĐA) và anh Phạm Công V (sinh năm 1995; HKTT: KD, HT, VY, YB). Anh T và V ra thanh toán tiền, hết 970.000 đồng. Anh T xin chịu nhưng Bùi Văn L không đồng ý vì anh T còn nợ cũ 300.000 đồng chưa trả. Anh T bảo anh V về nhà bạn để vay tiền còn mình ngồi lại quán. Lúc đó, Hoàng Văn Tr (sinh năm 1993; trú tại: NC, VN, ĐA) là bạn của Bùi Văn L đến, anh Hoàng Văn Tr bảo anh T trả tiền cho L, cùng lúc ấy Đồng Mạnh Th ra ngoài đi vệ sinh thì bị Tr chửi và thách đánh nhau với Th. S chạy ra cùng L vào can ngăn, đẩy Th vào phòng hát và chốt cửa ngoài, một lúc sau Ph ra ngoài lại xảy ra to tiếng với Tr. T cầm vỏ chai bia lao ra, Th cũng chạy theo ra đuổi theo Tr. Tr bỏ chạy. Không đuổi được Tr, Th, T và Nguyễn Doãn Tr quay vào phòng. Khoảng 05 phút sau, Th và T đi ra nhìn thấy anh T, tưởng anh T là Hoàng Văn Tr, T cầm chai bia HN cùng Th lao đến chỗ anh T. Tr, Ph và T cùng đuổi theo, anh T bỏ chạy. Các đối tượng đuổi theo anh T nhưng không kịp nên quay lại quán, sau đó tất cả ra về. S đi xe máy Wave chở Tr, T đi xe máy Dream chở Tạ Diệu L, còn Th, Ph, Y và T đi bộ.

Bị Th, T đuổi, anh T bỏ chạy về nhà cách quán khoảng 150m lấy 01 tuýp sắt và 01 thanh sắt xoắn dài 90cm, đường kính 02cm, rồi gọi Nguyễn Quang H (sinh năm 1982; em ruột T) và anh V quay lại quán. T cầm 01 thanh sắt xoắn và đưa đoạn tuýp sắt cho anh V cầm đứng đầu ngõ để phục đánh nhóm của Đồng Mạnh Th.

Khi S, Tr, T, L ra đến đầu ngõ của quán Karaoke, thì bị anh T cầm thanh sắt xông đến vụt nhưng không trúng. S nói với Tr: “Có chìa khóa không về nhà lấy đồ (hung khí)". Tr bảo có, cả 04 người đi về nhà Tr (cách quán khoảng 150m). Tr lấy 01 thanh kiếm trên nóc tủ và S cầm lấy thanh kiếm, T lấy 01 cán chổi bằng gỗ (dài khoảng 80cm) tại nơi gom rác của nhà Tr. S chở T bằng xe Dream đi trước, Tr chở Tạ Diệu L bằng xe Wave đi sau, quay lại chỗ anh T.

Khi nhóm Th, T, Ph, Y đi ra đến đầu ngõ rẽ trái về phía cổng làng, thì bị anh T đứng ở đầu ngõ chửi với theo: “Đ.m mấy con chó này”, “Đ.m mấy thằng kia quay lại đây”.v.v. Th cùng T, Ph quay lại nhặt gạch ném anh T nhưng không trúng. Th chạy lại và nhảy lên đá vào người anh T nhưng bị ngã xuống đường. Anh T tay cầm chiếc gậy sắt soắn chạy lại vụt Th, Th dơ tay nên đỡ và ôm vào ngưòi anh T để anh T không đánh được, hai người giằng co với nhau. Nguyễn Doãn Ph dùng hai tay bê 01 tảng gạch (gồm nhiều viên gạch dính với nhau), ném anh T nhưng không trúng. Trong khi Thành, Ph, T đang xô xát với anh T thì T, S, Tr, L đi xe máy tới nơi và dừng xe ở đầu ngõ. S cầm kiếm, T cầm gậy gỗ cùng Tr xông đến chỗ anh T. Anh T bỏ chạy về phía đường đi cầu Nhật Tân. T, S, Th, Tr, Ph đuổi theo. Khi đuổi tới gần nhà anh H (em trai anh T), S vụt ngang bản rộng thanh kiếm vào chân anh T, T vụt gậy gỗ vào đầu anh T làm gậy bị gãy khiến anh T ngã ngồi xuống đất. Anh T vùng bỏ chạy thêm được khoảng 04m tới khu đất trống phía trước cửa nhà anh H thì bị Th, S xông vào đấm đá làm anh T bị ngã xuống đường. T xông vào giằng thanh sắt trên tay anh T vụt một nhát vào đầu làm anh T ngã ngửa và nằm im. Th, Tr dùng chân đá nhiều cái vào người anh T, Th nói: “Đánh chết cha nó đi”. Bà Hoàng Thị U là mẹ đẻ của anh T thấy vậy kêu xin. Thấy anh T nằm im, Th, T, S, Tr bỏ về, S cầm kiếm, T cầm thanh sắt mang về nhà Tr cất giấu. Anh T được người nhà đưa vào bệnh viện đa khoa huyện ĐA, HN cấp cứu xong đã tử vong tại bệnh viện.

Theo bản Kết luận giám định pháp y số 4752 ngày 24 tháng 8 năm 2015 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố HN, kết luận về nguyên nhân chết của anh Nguyễn Hữu T như sau:

"Qua khám nghiệm giám định tử thi thấy:

- Trên cơ thể nạn nhân có một số vết xây xát da dạng mài và vết bầm tụ máu bề mặt da không bị xây xát

- Vùng mặt phải có vết xây xát tụ máu bong lớp da giấy hướng từ trước ra sau.

- Vùng giữa đỉnh, vùng thái dương phải, vùng thái dương chẩm trái, vùng chẩm trái có vết sưng nề tụ máu, bề mặt da bị xây xát

- Tổ chức dưới da đầu vùng đỉnh, vùng thái dương phải, thái dương chẩm trái bị tụ máu và ngấm máu. Xương thái dương phải có 02 đường vỡ song song, mảnh xương giữa hai đường vỡ sập lún.

- Chảy máu màng mềm hai bên bán cầu đại não, nhu mô não rải rác bị dập.

- Máu của nạn nhân thuộc nhóm máu B.

- Trong mẫu máu của nạn nhân có tìm thấy Ethanol, nồng độ Ethanol là 293,5mg/100ml máu.

* Nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não nặng.

* Thương tích vùng đầu do vật tầy cứng tác động gây nên.

* Thương tích vùng má phải do vật tầy cứng có cạnh tác động gây nên.

* Vết bầm tụ máu bề mặt da không bị xây xát do vật mềm tác động gây nên.”

Ngày 15/7/2015, Nguyễn Xuân T, Nguyễn Đăng S, Đồng Mạnh Th, Nguyễn Doãn Tr, Nguyễn Thị Hải Y và Nguyễn Doãn Ph đến Công an huyện ĐA đầu thú khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với tài liệu điều tra thu thập được. Nguyễn Văn N, Nguyễn Đức G, Nguyễn Thanh T bị Cơ quan điều tra ra lệnh bắt khẩn cấp.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 218/2017/HSST ngày 27/7/2017 của Tòa án nhân dân thành phố HN đã tuyên bố các bị cáo Đồng Mạnh Th, Nguyễn Doãn Tr phạm tội Giết người.

- Áp dụng: điểm n khoản 1 điều 93; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Đồng Mạnh Th 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/7/2015.

Xử phạt: Nguyễn Doãn Tr 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/7/2015.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với các bị cáo khác trong vụ án, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 08/8/2017, hai bị cáo Đồng Mạnh Th, Nguyễn Doãn Tr có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Cả hai bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; khai báo thành khẩn, tỏ thái độ ân hận, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; gia đình bị cáo Đồng Mạnh Th xuất trình thêm huân chương, huy chương của ông nội, ông ngoại bị cáo, kỷ niệm chương vì sự nghiệp giáo dục, vì sự nghiệp phụ nữ, giấy khen của mẹ bị cáo... và có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Mẹ của bị cáo Nguyễn Doãn Tr trình bày gia đình đã bồi thường cho gia đình người bị hại tổng cộng 37.000.000đ nhưng không xuất trình được chứng cứ để chứng minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại HN luận tội, có quan điểm: Tội danh, điều luật mà bản án sơ thẩm đã áp dụng đối với hai bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật. Trong vụ án này, bị cáo Đồng Mạnh Th tích cực bồi thường hơn so với bị cáo Nguyễn Doãn Tr (85.000.000đ so với 15.000.000đ) nhưng bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo với mức hình phạt ngang bằng với bị cáo Nguyễn Doãn Tr là chưa phù hợp; tại phiên tòa phúc thẩm gia đình bị cáo Đồng Mạnh Th xuất trình thêm huân chương, huy chương của ông nội, ông ngoại bị cáo, kỷ niệm chương vì sự nghiệp giáo dục, vì sự nghiệp phụ nữ, giấy khen của mẹ bị cáo và có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo và giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Đồng Mạnh Th; không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên hình phạt mà bản án sơ thẩm đã quyết định với bị cáo Nguyễn Doãn Tr.

Những người bào chữa cho hai bị cáo cùng trình bày: Cả hai bị cáo tuổi đời còn trẻ, nông nổi, bột phát phạm tội, chỉ là đồng phạm với vai trò giúp sức, thứ yếu trong vụ án. Sau khi phạm tội đã đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực bồi thường thiệt hại. Tại phiên tòa bị cáo Đồng Mạnh Th có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử mở lượng khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

Tại lời nói sau cùng cả hai bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận về hành vi phạm tội của hai bị cáo Đồng Mạnh Th, Nguyễn Doãn Tr tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của hai bị cáo và các bị cáo khác tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm; phù hợp khách quan với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản thu giữ vật chứng, biên bản giám định pháp y, lời khai người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm đủ căn cứ xác định: Đêm ngày 14/7/2015, do mâu thuẫn trong quán Karaoke của anh Bùi Văn L ở thôn NC, vào tại xã VN, huyện ĐA, HN nên giữa các bị cáo và anh T xảy ra cãi vã, xô xátt. Sau đó, anh T về nhà lấy gậy sắt, tuýp nước quay lại chửi bới, thách thức và tấn công nhóm của các bị cáo. S, T, Tr cũng về nhà lấy kiếm, gậy để tấn công lại. Trong khi xô xát, ẩu đả, S dùng kiếm vụt bằng bản ngang làm anh T ngã, T đã dùng gậy gỗ vụt vào đầu anh T làm gẫy gậy gỗ; khi anh T ngã, T tiếp tục giật tuýp sắt của anh T tiếp tục vụt vào đầu anh T, là nguyên nhân trực tiếp dẫn tiếp dẫn đến hậu quả làm anh T tử vong. Bị cáo Th, Tr có hành vi dùng chân, tay đấm đá nhiều cái vào người anh T. Diễn biến và hành vi cụ thể của từng bị cáo như đã được nêu tại phần nội dung vụ án.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt mà tước đi tính mạng của anh T. Bởi vậy, bản án sơ thẩm đã xét xử các bị cáo về tội giết người với tình tiết định khung: "Có tính chất côn đồ" theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo Đồng Mạnh Th và Nguyễn Doãn Tr về việc xin giảm nhẹ hình phạt:

Điều 93. Tội giết người quy định:

1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

n) Có tính chất côn đồ;

Căn cứ kết quả giám định về nguyên nhân chết của nạn nhân, xác định nguyên nhân tử vong trực tiếp là do bị Nguyễn Xuân T (hiện T đã chết) vụt gậy gỗ vào đầu với lực tác động mạnh khiến gậy gỗ bị gãy, sau đó T tiếp tục xông vào giằng thanh sắt trên tay anh T vụt tiếp vào đầu anh T. Hai bị cáo Đồng Mạnh Th và Nguyễn Doãn Tr đều thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức, thứ yếu trong vụ án; hành vi của hai bị cáo không phải là nguyên nhân trực tiếp gây nên cái chết của nạn nhân nên cần áp dụng thêm các quy định tại Điều 20 và Điều 53 Bộ luật Hình sự để cá thể hóa hình phạt đối với hai bị cáo; sau khi phạm tội hai bị cáo đã đầu thú, thành khẩn khai báo và bồi thường cho gia đình người bị hại; người bị hại trong vụ án cũng có lỗi khi về nhà gọi thêm người, lấy tuýp nước, thanh sắt ra phục đánh các bị cáo... nên Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự cho hai bị cáo là phù hợp, đúng pháp luật. Hội đồng xét xử phúc thẩm còn xét thấy: Bị cáo Nguyễn Doãn Tr đã bồi thường 15.000.000đ, bị cáo Đồng Mạnh Th bồi thường tích cực hơn với số tiền 85.000.000đ; tại phiên tòa phúc thẩm gia đình bị cáo Đồng Mạnh Th xuất trình thêm huân chương, huy chương của ông nội, ông ngoại bị cáo, kỷ niệm chương vì sự nghiệp giáo dục, vì sự nghiệp phụ nữ, giấy khen của mẹ bị cáo, được coi là có thêm tình tiết giảm nhẹ khác theo quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999. Trên cơ sở đánh giá đó, hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của hai bị cáo để giảm nhẹ cho mỗi bị cáo một phần hình phạt so với quyết định của Bản án sơ thẩm; trong đó sẽ áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự để giảm hình phạt cho bị cáo Thành nhiều hơn bị cáo Trường.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ quy định tại Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Do kháng cáo được chấp nhận nên hai bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Áp dụng điểm n khoản 1 điều 93; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33, Điều 20, Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 1999 đối với cả hai bị cáo; áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 1999 đối với bị cáo Đồng Mạnh Th.

1. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của hai bị cáo Đồng Mạnh Th và Nguyễn Doãn Tr. Sửa quyết định về hình phạt của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với hai bị cáo như sau:

Xử phạt bị cáo Đồng Mạnh Th 11 (mười một) năm tù về tội giết người. Thời hạn tù tính từ ngày 15/7/2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Doãn Tr 12 (mười hai) năm tù về tội giết người. Thời hạn tù tính từ ngày 15/7/2015.

2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ