vanban.org

Bản án 02/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 24/01/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Tuyên bố: Bị cáo Lâm Văn K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm b Khoản 2 Điều 194; điểm o, p Khoản 1, khoản 2 điều 46 của BLHS năm 1999. Xử phạt: Bị cáo Lâm Văn K 07 (Bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/4/2017. Không phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "lâm văn k - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? * Tuyên bố: Bị cáo Lâm Văn K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẮC KẠN
TỈNH BẮC KẠN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02 /2018/HS-ST
Ngày 24/01/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁNNHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Ma Quốc Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lý Văn Chỉnh

Bà Hoàng Thị Thu Hiền

Hội thẩm dự khuyết: Ông Ma Văn Hiệp

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Lộc

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn tham gia phiên

tòa: Bà Hứa Thị Hồng- Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2018 tại Hội trường xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn

Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 48/2017/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2018/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 01 năm 2018 đốivới bị cáo:

Lâm Văn K sinh ngày 10 tháng 10 năm 1976 tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn Nơi cư trú: Thôn Nà Cà, xã Cao Kỳ, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Văn P (đã chết) và bà Đinh Thị K O; vợ con Chưa có; tiền án không,tiền sự: Không; bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Kạn từ ngày 12/4/2017 đến nay (Có mặt tại phiên tòa).

- Người tham gia tố tụng khác: Người làm chứng:

1. Anh Tống Ngọc Th – Sinh năm 1978 (Vắng mặt).

Trú tại: Thôn Đầu Cầu, xã Cẩm Giàng, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn

2. Anh Triệu Văn T – Sinh năm 1986 (Vắng mặt).

Trú tại: Thôn Nà Lốc, xã Nguyên Phúc, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn

3. Anh Nông Hoàng Đ – Sinh năm 1977 (Vắng mặt).

Trú tại: Thôn Choọc Toòng, xã Cao Kỳ, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn

4. Anh Lường Văn B – Sinh năm 1974 (Vắng mặt).

Trú tại: Thôn Bản Đồn I, phường Xuất Hóa, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 45 phút ngày 12/4/2017 tổ công tác của phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Bắc Kạn nhận được tin báo của quần chúng nhân dân hiện nay tại Cơ sở điều trị methadone thành phố Bắc Kạn thuộc tổ 9, phường Nguyễn Thị Minh Khai, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn có một đối tượng nam giới khoảng 40 tuổi đi xe mô tô BKS 97F8 - 6538 có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy. Sau khi nhận được tin báo, tổ công tác của phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Bắc Kạn đã đến Cơ sở điều trị methadone thành phố Bắc Kạn xác minh nguồn tin trên thì phát hiện đối tượng tên là Lâm Văn K, sinh ngày 10/10/1976, trú tại: Thôn Nà Cà, xã Cao Kỳ, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn cất giấu trong túi quần bò đằng trước đang mặc 01 bao thuốc lá nhãn hiệu Marlboro bên trong có 01 gói được gói bằng giấy vở học sinh có dòng kẻ có chứa chất bột màu trắng dạng cục có trọng lượng 0,143g (Mẫu gửi giám định B1); tạm giữ của Lâm Văn Kỳ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 đã qua sử dụng, bên trong có 01 sim viettel mang số thuê bao 01633547835; 01 ví giả da màu nâu bên trong 01 đăng ký mô tô, xe máy số 008674 mang tên Vi Thị L; TiềnViệt Nam 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng); 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda màu bạc, đen đã qua sử dụng Biển kiểm soát 97F8-6538.

Đến 13 giờ 00 phút cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của Lâm Văn K tại thôn Nà Cà 1, xã Cao Kỳ, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Ngày 13/4/2017 Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định, tại bản Kết luận giám định số 33/KTHS-MT ngày 25/4/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: Mẫu chất bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu B1 thu giữ của Lâm Văn K gửi giám định là chất ma túy, loại Heroin.

Tại cơ quan điều tra, Lâm Văn K khai nhận: Gói ma túy mà K tàng trữ trái phép trên người bị thu giữ là của Lâm Văn K. Về nguồn gốc gói ma túy K khai mua của một người đàn ông lạ mặt không rõ tên tuổi địa chỉ ở khu vực bến xe khách Thái Nguyên với số tiền 300.000đ vào ngày 10/4/2017. Sau khi mua được ma túy, K đã đem về sử dụng và bán cho những người nghiện một phần, số ma túy còn lại K mang theo trên người khi đến uống thuốc tại cơ sở điều trị methadone thành phố Bắc Kạn thì bị Công an bắt cùng vật chứng.

Qua đấu tranh khai thác, Lâm Văn K khai nhận bản thân đã được bán trái phép chất ma túy nhiều lần cho nhiều người cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng 15 giờ ngày 29/3/2017 K đang ở nhà tại thôn Nà Cà I, xã Cao Kỳ, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn thì Tống Ngọc Th, sinh ngày 21/5/1978, trú tại: Thôn Đầu Cầu, xã Cẩm Giàng, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn gọi điện vào số thuê bao 01633547835 của K để hỏi mua 2 gói ma túy mỗi gói 100.000đ, K đồng ý bán và hẹn đến khu vực gần nhà (Cách nhà của K khoảng 50 đến 60m) để gặp nhau. Sau đó K ra đến chỗ hẹn thì gặp Tống Ngọc Th và Triệu Văn T, sinh ngày 12/4/1986, trú tại: Thôn Nà Lốc, xã Nguyên Phúc, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn. Tại đây T đưa cho K 200.000đ K cầm lấy tiền và đưa cho T 02 gói ma túy, sau đó K đi về nhà.

Lần thứ hai: Khoảng 15 giờ ngày 09/4/2017, K đang ở nhà thì Nông Hoàng Đ, sinh ngày 17/5/1977, trú tại: Thôn Choọc Toòng, xã Cao Kỳ, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn gọi điện vào số thuê bao trên của K để hỏi mua một gói ma túy với giá 100.000đ, K đồng ý bán và hẹn ra khu vực đằng sau nhà K (Cách nhà khoảng 50 đến 60 mét) để gặp nhau. Sau đó K đi ra chỗ hẹn thì gặp Đ và Tống Ngọc Th, tại đây Th đưa tiền cho K 100.000đ, K cầm tiền và bán cho Th 01 gói ma túy.

Lần thư ba: Khoảng 11 giờ ngày 10/4/2017 K đang ở chỗ uống methadone tại khu vực tổ 9, phường Nguyễn Thị Minh Khai, thành phố Bắc Kạn thì Tống Ngọc Th gọi điện vào số thuê bao của K hỏi mua 01 gói ma túy với giá 100.000đ, K đồng ý bán và hẹn gặp nhau ở khu vực cổng chợ Minh Khai thuộc tổ 5, phường Nguyễn Thị Minh Khai, thành phố Bắc Kạn. Sau đó k điều khiển xe mô tô BKS 97F8-6538 đến chỗ hẹn. Khi ra đến chỗ hẹn tại đây Th đưa cho K 100.000đ, K cầm tiền và bán cho Th 01 gói ma túy.

Lần thứ tư: Khoảng 19 giờ ngày 11/4/2017 K đang ở nhà thì nghe thấy có tiếng chó sủa và đi mở cổng thì gặp Nông Hoàng Đ, Đ hỏi mua một gói ma túy với giá 100.000đ, K đồng ý bán, Đ đưa tiền cho K 100.000đ, K cầm tiền và bán cho Đ 01 gói ma túy. Sau đó Đ đi về còn K đi vào nhà.

Lần thứ năm: Khoảng hơn 20 giờ ngày 11/4/2017, K đang ở nhà thì nghe có tiếng xi nhan xe máy bật ngoài cổng nhà, K đi ra mở cổng thì gặp Lường Văn B, sinh ngày 16/8/1974, trú tại: Tổ Bản Đồn I, phường Xuất Hóa, thành phố Bắc Kạn. Tại đây Bằng hỏi K mua một gói ma túy với giá 100.000đ, K đồng ý bán rồi Bằng đưa tiền cho K 100.000đ, K cầm lấy tiền và bán cho Bằng 01 gói ma túy. Sau đó B đi về còn K đi vào nhà.

Ngoài ra, Lâm Văn K còn khai nhận: Khoảng 9 giờ ngày 12/4/2017, K đang ở ngoài đường quốc lộ 3 gần nhà thuộc thôn Nà Cà I, xã Cao Kỳ, huyện Chợ Mới thì có một người đàn ông tự giới thiệu tên là Đản (Nhưng K không rõ họ tên địa chỉ cụ thể ở đâu, chỉ nghe Đản nói là nhà ở xã Cao Kỳ, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn) hỏi K mua 01 gói ma túy với giá 100.000đ, K đồng ý bán và đi bộ về nhà cầm 01 gói ma túy ra bán cho Đản nhưng Đản chỉ đưa cho K 70.000đ và còn nợ 30.000đ. Trước đó K còn được bán cho Đản 01 gói ma túy với giá 100.000đ nhưng do đã lâu nên K không nhớ thời gian cụ thể. Địa điểm bán là tại đường quốc lộ 3 gần nhà K. Do K không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của người đàn ông tên là Đản đã mua ma túy với K và qua xác minh tại địa bàn xã Cao Kỳ, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn không có người đàn ông nào tên là Đản nên Cơ quan điều tra tách hành vi bán trái phép chất ma túy của K cho đối tượng tên là Đản ra để tiếp tục điều tra, xử lý sau.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ và số ma túy bán cho người khác, Lâm Văn K khai nhận là do K đi xuống bến xe khách tỉnh Thái Nguyên mua 03 lần vào các ngày 29/3/2017, ngày 09/4 và 10/4/2017 với ba người đàn ông khác nhau đều không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể, mỗi lần K mua hết 300.000đ. Tổng số tiền K đã mua ma túy là 900.000đ. Sau khi mua được ma túy về, K chia thành các gói nhỏ để sử dụng cho bản thân và bán lại cho những người nghiện. Do bị cáo Lâm Văn K không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của người bán ma túy nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để xác minh, làm rõ.

Bản cáo trạng số: 47/KSĐT ngày 27/11/2017 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. Đã truy tố Lâm Văn K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 điều 194 BLHS 1999. Tại phiên Tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng Xét xử áp dụng điểm b khoản 2 điều 194 BLHS 1999 xử phạt bị cáo Lâm Văn K từ 7 đến 8 năm tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng áp dụng điều 47 BLHS 2015 và điều 106 BLTTHS 2015.

+ Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì đã niêm phong và 01 ví giả da đã cũ.

+ Tich thu hóa giá xung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ mầu bạc, đen xám đã qua sử dụng bên trong có 01 sim có số thuê bao 01633547835 của K đã sử dụng chiếc điện thoại này liên lạc mua bán ma túy nên cần tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước.

+ Truy thu của bị cáo số tiền 600.000đ để sung quỹ nhà nước

+ Tiếp tục tạm giữ 2.500.000 để đảm bảo thi hành án.

Tuyên bị cáo phải chịu án phí.

Tại phần tranh luận bị cáo không có tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận của Lâm Văn K tại phiên tòa. Do bản thân nghiện chất ma túy nên bị cáo đã mua ma túy (Heroin) về để sử dụng và chia ra bán cho người nghiện chất ma túy khác. Ngày 29/3/2017 và các ngày 09,10,11/4/2017 Lâm Văn K đã 05 lần bán ma túy (Heroin) cho Tống Ngọc Th, Triệu Văn T, Nông Hoàng Đ, Lường Văn B, trước khi bán K có sử dụng điện thoại di động để liên lạc và sử dụng mô tô BKS 97F8-6538 để làm phương tiện đi lại mua bán ma túy, tổng số tiền các lần bán ma túy K thu được là 600.000đ. Việc bán ma túy của K được thực hiện tại khu vực thôn Nà Cà I, xã Cao Kỳ, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn và khu vực cổng chợ Minh Khai, thuộc tổ 5, phường Nguyễn Thị Minh Khai, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ xác định việc truy tố, xét xử bị cáo K về tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý”; theo điểm b, khoản 2 Điều 194 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Đối với đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên Tòa là có căn cứ và phù hợp với tính chất của vụ án, phù hợp với quy định của pháp luật nên cần được áp dụng khi quyết định.

Xét tính chất, hành vi thực hiện của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, làm gia tăng tội phạm và tệ nạn xã hội gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự ở địa phương. Cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt không có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tặng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo K thành khẩn khai báo và tự thú về hành vi phạm tội, nên được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm o, p Khoản 1 Điều 46 BLHS. Bị cáo có mẹ đẻ được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến do đó bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 46 của BLHS năm 1999.

Bị cáo không có tài sản và không có việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Trong vụ án còn có Tống Ngọc Th, Triệu Văn T, Nông Hoàng Đ, Lường Văn B là những người được mua ma túy với bị cáo để sử dụng, hành vi của những người này không đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Kạn đã lập hồ sơ quản lý giáo dục người nghiện là đúng quy định của pháp luật.

Về vật chứng:

+ 01 xe mô tô BKS 97F8-6538 bị cáo K sử dụng để làm phương tiện đi lại mua bán ma túy, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu của xe là chị Lâm Thị Vy L chị gái của bị cáo K trú taị tổ 15, phường Sông Cầu, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, khi chị cho K mượn không biết việc K sử dụng vào việc mua bán ma túy nên cơ quan điều tra đã trả lại xe cho chị, việc trả lại là có căn cứ, đúng pháp luật.

+ 02 phong bì 01 phong bì ký hiệu T53 đã niêm phong bên ngoài ghi mẫu hoàn trả vụ Lâm Văn Kỳ có 04 chữ ký và 02 dấu tròn của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn. 01 phong bì ký hiệu B2 đã niêm phong có chữ ký giáp lai của Lâm Văn K, 03 dấu tròn của UBND phường Phùng Chí Kiên, thành phố Bắc Kạn; 01 ví giả da mầu nâu đã cũ. Xét thấy đây là số vật chứng không còn giá trị sử dụng và là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy. + Số tiền 2.500.000đ thu giữ trên người của K cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án. + Truy thu sung quỹ nhà nước 600.000đ do K bán ma túy mà có. + 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ mầu bạc, đen xám đã qua sử dụng bên trong có 01 sim có số thuê bao 01633547835 K đã sử dụng chiếc điện thoại này liên lạc mua bán ma túy nên cần tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước.

* Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Các hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm Sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

* Tuyên bố: Bị cáo Lâm Văn K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng: Điểm b Khoản 2 Điều 194; điểm o, p Khoản 1, khoản 2 điều 46 của BLHS năm 1999.

- Xử phạt: Bị cáo Lâm Văn K 07 (Bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/4/2017. Không phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.

* Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS 2015 và điều 106 BLTTHS 2015. + Truy thu sung quỹ nhà nước 600.000đ do K bán ma túy mà có. + Tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ mầu bạc, đen xám đã qua sử dụng bên trong có 01 sim có số thuê bao 01633547835 của Lâm Văn K. + Số tiền 2.500.000đ thu giữ trên người của K cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án, số tiền thừa còn trả lại cho bị cáo. + Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì 01 phong bì ký hiệu T53 đã niêm phong bên ngoài ghi mẫu hoàn trả vụ Lâm Văn K có 04 chữ ký và 02 dấu tròn của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn. 01 phong bì ký hiệu B2 đã niêm phong có chữ ký giáp lai của Lâm Văn K, 03 dấu tròn của UBND phường Phùng Chí Kiên, thành phố Bắc Kạn; 01 ví giả da mầu nâu đã cũ.

- Tất cả (Số lượng, tình trạng và ký hiệu vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố Bắc Kạn và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn ngày 30/11/2017).

Việc thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật dân sự và Luật thi hành án dân sự.

* Án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

"Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự ".

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ