- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thanh Hiền ( Hải) - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Thanh H (H1) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 105 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TB TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:02/2018/HS-ST Ngày:06/02/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TB, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hiệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đoàn Hoài Linh.
Ông Nguyễn Tấn Minh.
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Minh Tú là Thư ký Toà án nhân dân huyện TB, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TB, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Võ Trường Thọ - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 02 năm 2018 tại Tòa án nhân dân huyện TB, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 02/2018/TLST-HS, ngày 17 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2018/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:
Phạm Thanh H (H1), sinh năm 1974, tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi Đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp X M, xã TLH, huyện CC1, Thành phố Hồ Chí Minh và chỗ ở: Khu phố LD, thị trấn TB, huyện TB, tỉnh Tây Ninh. Nghề nghiệp: Thợ hớt tóc; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H và bà Nguyễn Thị C; có vợ tên Lê Thị H, sinh năm 1976 (đã ly hôn) và có 01 con;
Tiền án: Không có; tiền sự: Không có; Về nhân thân: ngày 25/11/2004 bị Tòa án nhân dân huyện CC1 xử phạt 9 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” bị cáo đã chấp hành xong (đã được xóa án tích). Bị tạm giữ ngày 13/12/2017, tạm giam ngày 17/12/2017. Có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Nguyễn Văn P, sinh năm: 1990.
Địa chỉ: ấp TC, xã ĐT, huyện TB, tỉnh Tây Ninh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 19 giờ 30 Pt ngày 13/12/2017, Công an huyện TB bắt quả tang Phạm Thanh H (H1) đang bán trái phép 01 bịch chất ma túy cho Nguyễn Văn P, sinh năm 1990, với giá 1.850.000 đồng tại khu vực ấp TC, xã ĐT, huyện TB, tỉnh Tây Ninh. Thu giữ 01 bịch nylon trong suốt được bịt kín, bên trong có chứa tinh thể trong suốt được để trong bao thuốc lá hiệu Hero; tiền Việt Nam 2.350.000 đồng và một số vật chứng khác.
Qua điều tra, thể hiện: Khoảng 16 giờ ngày 13/12/2017, P điện thoại cho Hiền hỏi mua 01 bịch chất ma túy với giá 1.850.000 đồng thì Hiền đồng ý bán và hẹn giao nhận chất ma túy trên đường đất đỏ thuộc khu vực ấp TC, xã ĐT, huyện TB, tỉnh Tây Ninh. Sau đó, H (H1) đi bộ đến Khu phố LD, thị trấn TB, huyện TB, tỉnh Tây Ninh, mua 01 bịch chất ma túy với giá 1.700.000 đồng của người tên T (không rõ địa chỉ) được để vào trong bao thuốc lá hiệu Hero. Đến khoảng 19 giờ 30 Pt cùng ngày, H (H1) nhờ người tên B (không rõ địa chỉ) điều khiển xe môtô (không rõ biển số) chở Hiền đi đến nơi hẹn với P để lấy bộ cựa gà thì B đồng ý. Khi B chở H (H1) chạy qua khỏi nơi P đang đứng đợi khoảng 20 mét thì H (H1) ném xuống đất 01 bao thuốc lá hiệu Hero bên trong có để 01 bịch chất ma túy, cùng lúc H (H1) kêu B quay xe lại chỗ P đứng, H (H1) kêu P đưa tiền và đến lấy chất ma túy đã ném dưới đất thì bị Công an bắt quả tang, còn B điều khiển xe môtô chạy thoát.
Ngoài ra, H (H1) và P đều khai nhận: Vào các ngày 24/11/2017, 04/12/2017, H (H1) bán trái phép chất ma túy cho P được 02 lần, mỗi lần bán 01 bịch với giá từ 1.800.000đồng đến 1.850.000đồng.
Tại Kết luận giám định số 237/MT ngày 16/12/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận: Tinh thể trong suốt bên trong 01 bịch nylon trong suốt được bịt kín là chất ma túy, loại Methamphetamine, trọng lượng 0,5116 gam.
Vật chứng thu giữ: Có bảng thống kê kèm theo.
Qua xác minh, Phạm Thanh H (H1) không có tài sản nên không tiến hành kê biên.
Đối với Phạm Thanh H (H1), Nguyễn Văn P có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an huyện TB đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với những người tên T, B mà Hiền khai có liên quan đến việc mua bán chất ma túy, hiện không rõ địa chỉ và chưa làm việc được, Cơ quan điều tra đang tiếp tục làm rõ để xử lý sau.
Tại phiên tòa bị cáo Phạm Thanh H (H1) thừa nhận hành vi phạm tội, vật chứng bị thu giữ như nội dung vụ án đã nêu .
Bản cáo trạng số 04/CT-VKS, ngày 16/01/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TB, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Phạm Thanh H (H1) về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự 1999.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194; điểm p,o khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự 1999
Xử phạt bị cáo Phạm Thanh H (H1) từ 07 đến 08 năm tù.
Hình phạt bổ sung: Bị cáo H (H1) không có có tài sản, bị cáo không có chức vụ quyền hạn, cũng không hành nghề hoặc công việc nhất định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo H (H1).
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Phạm Thanh H (H1) nói lời nói sau cùng: xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện TB, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TB, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Hình sự 1999. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét hành vi của bị cáo thấy rằng: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định từ ngày 24/11/2017 đến ngày 13/12/2017 bị cáo H (H1) đã thực hiện 03 vụ mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn huyện TB, tỉnh Tây Ninh, cụ thể:
Vào lúc 19 giờ 30 Pt ngày 13/12/2017, Công an huyện TB bắt quả tang Phạm Thanh H (H1) đang bán trái phép 01 bịch chất ma túy cho Nguyễn Văn P, sinh năm 1990, với giá 1.850.000 đồng tại khu vực ấp TC, xã ĐT, huyện TB, tỉnh Tây Ninh. Thu giữ 01 bịch nylon trong suốt được bịt kín, bên trong có chứa tinh thể trong suốt được để trong bao thuốc lá hiệu Hero; tiền Việt Nam 2.350.000 đồng và một số vật chứng khác.
Vào lúc 15h ngày 24/11/2017 H (H1) bán cho Nguyễn Văn P 01 bịch ma túy giá 1.800.000đồng tại Khu phố LD, thị trấn TB, huyện TB, tỉnh Tây Ninh.
Ngày 04/12/2017 H (H1) bán cho P 01 bịch ma túy giá 1.850.000 đồng tại tại ấp XĐ, xã TP, huyện GD, tỉnh Tây Ninh.
Tại Kết luận giám định số 237/MT ngày 16/12/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận: Tinh thể trong suốt bên trong 01 bịch nylon trong suốt được bịt kín là chất ma túy, loại Methamphetamine, trọng lượng 0,5116 gam.
Do đó, có đủ căn cứ xác định Phạm Thanh H (H1) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, cụ thể:
Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, hành vi của bị là nguy hiểm cho xã hội, làm mất trật tự trị an ở địa phương, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy nên cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo H (H1) không có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu ngày 25/11/2004 bị Tòa án nhân dân huyện CC1 xử phạt 9 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” bị cáo đã chấp hành xong (đã được xóa án tích).
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo H (H1) thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo tự động khai báo về hành vi phạm tội trước đó. Nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm p,o khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự 1999.
Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự 1999 thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”. Thấy rằng: Bị cáo H (H1) không có có tài sản, bị cáo không có chức vụ quyền hạn, cũng không hành nghề hoặc công việc nhất định nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo H (H1).
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01(một) bì thư được niêm phong vụ số 2371 có chữ ký của giám định viên, sau khi giám định còn lại 0,4485 gam chất ma túy, tên gọi Methamphetamine; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng đã qua sử dụng); 01 bật lửa màu vàng (đã qua sử dụng); 01 ống hút nhựa màu trắng hở 2 đầu bên trong rỗng; 15 (mười lăm) bịch nylon trong suốt, được bịt kín có một đầu viền màu xanh bên trong rỗng. Tất cả không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với Điều 41 Bộ luật hình sự 1999 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia 6300, màu vàng, số IMEI 354308/03/090723/1 và số 0944888255 (đã qua sử dụng) của bị cáo H (H1) dùng để liên lạc mua bán ma túy nên cần tịch thu sung vào công quỹ nhà nước là phù hợp với Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Đối với số tiền 1.850.000 đồng tiền Việt Nam của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn P, anh P xác định là tiền mua bán ma túy (bl: 02, 13, 14, 19, 63, 64 ) Xét thấy, có liên quan đến việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào công quỹ nhà nước là phù hợp với Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Đối với số tiền 500.000đồng của bị cáo H (H1), 01 căn cước công dân mang tên Phạm Thanh H (H1) của bị cáo Hiền. Xét thấy, không liên quan đến việc phạm tội nên cần hoàn trả cho bị cáo là phù hợp Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Tất cả các vật chứng này hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện TB đang quản lý.
Về án phí: Áp dụng Điều 98 và 99 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo H (H1) phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Thanh H (H1) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194; điểm o,p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Xử phạt bị cáo Phạm Thanh H (H1) 08 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/12/2017.
Hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phạm Thanh H (H1)
2. Về xử lý vật chứng: áp dụng điều 41 Bộ luật hình sự 1999 và Điều 105 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Tịch thu tiêu hủy 01(một) bì thư được niêm phong vụ số 2371 có chữ ký của giám định viên, sau khi giám định còn lại 0,4485 gam chất ma túy, tên gọi Methamphetamine; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng đã qua sử dụng); 01 bật lửa màu vàng (đã qua sử dụng); 01 ống hút nhựa màu trắng hở 2 đầu bên trong rỗng; 15 (mười lăm) bịch nylon trong suốt, được bịt kín có một đầu viền màu xanh bên trong rỗng không.
Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước số tiền 1.850.000 đồng tiền Việt Nam của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn P.
Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia 6300, màu vàng, số IMEI 354308/03/090723/1 và số 0944888255 (đã qua sử dụng) của bị cáo Phạm Thanh H (H1) .
Hoàn trả cho bị cáo H (H1) số tiền 500.000đồng và 01 căn cước công dân mang tên Phạm Thanh H (H1).
Tất cả các vật chứng này hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện TB đang quản lý.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 98 và 99 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016, nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Phạm Thanh H (H1) phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo Phạm Thanh H (H1) được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn P vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện TB; -Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh; -Chi cục THADS huyện TB; -Cơ quan thi hành án hình sự; -Công an cấp xã nơi bị cáo cư trú; -Bị cáo; người TGTT khác; -Lưu hồ sơ; -Lưu tập án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Nguyễn Thị Mỹ Hiệp |