- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm Xuân D - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lâm Xuân D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
| TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2018/HS-ST Ngày 15/3/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN, TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hoàng Tùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Quý Sáng
Ông Đoàn Thế Xương
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Dần - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 3 năm 2018, tại nhà văn hóa tổ dân phố 6B1, thị trấn Phố Ràng, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2018/HSST ngày 25/01/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo:
Lâm Xuân D (tên gọi khác: không) - sinh ngày 10/02/1984 tại Hải Hậu, Nam Định. Nơi ĐKTT: Tổ 2A, thị trấn Phố Ràng, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai; Chỗ ở: Bản Mỏ Đá, xã Tân Dương, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Hồng Thái và bà Hoàng Thị Khánh; có vợ là Trần Thị Dung và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 17/12/2017, bị tạm giam từ ngày 20/12/2017. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai - có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
Người chứng kiến: Anh Đường Xuân Huế - sinh năm 1979, trú tại: Bản Mỏ Đá, xã Tân Dương, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai - vắng mặt (đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 16/12/2017, Lâm Xuân D đi xe máy từ nhà ra lễ Đền ông Hoàng Bảy, tại xã Bảo Hà. Khoảng 10 giờ cùng ngày, sau khi lễ đền xong D quay về đến đỉnh dốc quốc lộ 279 (thuộc địa phận xã Yên Sơn, huyện Bảo Yên) thì nhìn thấy một người đàn ông không biết tên, địa chỉ đang ngồi trên xe WAVE ALPHA màu đỏ đỗ ở lề đường, D liền dừng xe lại rồi đi bộ đến gần và hỏi “Có hàng không anh?”, người đàn ông nói “Lấy bao nhiêu?”, D trả lời “Cho em một triệu hai”, đồng thời lấy 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng) từ trong túi áo ra đưa cho người đàn ông và nhận được 01 gói nhỏ được cuốn bằng băng dính màu đen. D cầm đúc vào túi áo ngực bên trái và điều khiển xe máy đi về. Khi về nhà, D lấy gói nhỏ được cuốn bằng băng dính màu đen mở ra thì thấy bên trong là lớp nilon màu xanh, bên trong lớp nilon màu xanh là 06 gói nhỏ được gói bằng tờ giấy bạc của bao thuốc lá, bên trong mỗi gói giấy bạc là chất bột khô màu trắng vón cục. D lấy 03 gói nhỏ ra để sử dụng dần, còn lại 03 gói nhỏ D dùng băng dính màu đen cuốn lại rồi đúc tất cả vào túi áo khoác treo trong phòng ngủ. Đến khoảng 17 giờ ngày 17/12/2017, D lấy áo khoác ra mặc rồi đi bộ theo đường Quốc lộ 279 ra thị trấn Phố Ràng, khi đi cách nhà khoảng 500m thì gặp lực lượng công an huyện Bảo Yên tiến hành kiểm tra, D đã tự giác giao nộp 06 gói nhỏ ma túy trên người và 01 điện thoại di động HTC màu trắng.
Tại kết luận giám định số 13/GĐMT ngày 19/12/2017 của Phòng KTHS Công an tỉnh Lào Cai, kết luận: 06 gói chất bột khô màu trắng vón cục thu giữ của Lâm Xuân D ngày 17/12/2017 có trọng lượng (khối lượng) 1,25 gam là Hêrôin.
Bản Cáo trạng số 01/CT-VKS ngày 23/01/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên đã truy tố bị cáo Lâm Xuân D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, bị cáo Lâm Xuân D thừa nhận toàn bộ hành vi tàng trữ ma túy của mình như kết luận điều tra của cơ quan điều tra và bản cáo trạng viện kiểm sát đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên giữ quyền công tố luận
tội và tranh luận tại phiên tòa. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lâm Xuân D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; tuyên xử lý vật chứng và án phí theo quy định của pháp luật. Về hình phạt bổ sung: do bị cáo không có việc làm, không có thu nhập và tài sản riêng nên không đề nghị áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Sau khi kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện Bảo Yên, điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra huyện Bảo Yên, điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo Lâm Xuân D không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đúng quy định pháp luật.
Về xác định tội phạm và áp dụng pháp luật: Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 16/12/2017, Lâm Xuân D có mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói nhỏ được cuốn bằng băng dính màu đen với giá 1.200.000đ. D cầm đúc vào túi áo ngực bên trái và điều khiển xe máy đi về nhà. Đến khoảng 17 giờ ngày 17/12/2017, D lấy áo khoác ra mặc rồi đi ra quốc lộ 279, khi cách nhà khoảng 500m thì gặp lực lượng công an huyện Bảo Yên tiến hành kiểm tra, D đã tự giác giao nộp số ma túy trên người và 01 điện thoại di động HTC màu trắng. Tại Kết luận giám định số 13/GĐMT ngày 19/12/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, kết luận: 06 gói chất bột khô màu trắng vón cục thu giữ của Lâm Xuân D ngày 17/12/2017 có trọng lượng (khối lượng) 1,25 gam là Hêrôin. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt phạm tội quả tang, kết luận giám định, biên bản ghi lời khai của người chứng kiến cũng như các lời khai khác có trong hồ sơ. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lâm Xuân D đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai truy tố đối với bị cáo Lâm Xuân D về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo Lâm Xuân D đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999. Khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999 quy định: “1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”. Căn cứ vào khoản 3 Điều 7 và khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì hành vi phạm tội của bị cáo Lâm Xuân D thuộc trường hợp được áp dụng quy định có lợi cho người phạm tội theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hành vi của bị can Lâm Xuân D đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” với tình tiết định khung "Heroine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam". Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) ...
c) Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR
- 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;"
Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo nhận thức rất rõ về rõ tác hại của ma túy và chế độ độc quyền, thống nhất quản lý chất ma túy của Nhà nước nhưng vẫn thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với trọng lượng 1,25gam Hêrôin để sử dụng dần. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của chính bản thân bị cáo, gây mất trật tự trị an, làm gia tăng tệ nạn về ma tuý trên địa bàn huyện Bảo Yên. Tòa xét thấy, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; về tình tiết giảm nhẹ: tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai nhận tội. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì ngoài hình phạt chính, bị cáo Lâm Xuân D còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có công việc, không có thu nhập và tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về việc xử lý vật chứng: Đối với số ma túy có trọng lượng là 1,25 gam Hêrôin, cơ quan điều tra đã trích mẫu 0,15 gam Hêrôin giám định và lưu mẫu không hoàn lại còn lại 1,10 gam Hêrôin được niêm phong trong bì thư in sẵn của Phòng KTHS Công an tỉnh Lào Cai cần tịch thu tiêu hủy. Đối với chiếc điện thoại HTC màu trắng thu của bị cáo, xét thấy không liên quan đến việc phạm tội, bị cáo đề nghị trả lại cho bị cáo và giao cho mẹ bị cáo giữ trong quá trình bị cáo đi cải tạo, cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại trên, bị cáo không có đề nghị gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Trong vụ án này, còn có đối tượng là người đàn ông bán ma túy cho Lâm Xuân D do chưa làm rõ được lai lịch, địa chỉ nên Công an huyện Bảo Yên tiếp tục điều tra xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lâm Xuân D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Lâm Xuân D 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 17/12/2017.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 1,10 gam Hêrôin được niêm phong trong bì thư in sẵn của Phòng KTHS Công an tỉnh Lào Cai. Trên một mặt của phong bì niêm phong có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu trong vụ Lâm Xuân D có hành vi phạm tội về ma túy”. Phát hiện (thu giữ) ngày 17/12/2017 tại bản Mỏ Đá, xã Tân Dương, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án buộc bị cáo Lâm Xuân D phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo Lâm Xuân D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND tỉnh Lào Cai; - Sở Tư pháp tỉnh Lào Cai; - VKSND huyện Bảo Yên; - Công an huyện Bảo Yên; - Chi cục THADS huyện Bảo Yên; - Cơ quan THAHS huyện Bảo Yên; - Bị cáo; - Lưu: hồ sơ; tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Hoàng Tùng |