- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hồ Văn H về ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯỚNG HÓA TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:02/2018/HNGĐ-ST Ngày 23/01/2018 V/v “Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯỚNG HÓA, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Gia Bảng;
Ông Nguyễn Thành Biên;
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Bé – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Đợi – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 88/2017/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2017 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2018/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Hồ Văn H, sinh năm 1968; Địa chỉ: Khóm A, thị trấn K, huyện H, tỉnh Quảng Trị; Có mặt.
- Bị đơn: Chị Đỗ Thị H2, sinh năm 1975; Địa chỉ: Khóm A, thị trấn K, huyện H, tỉnh Quảng Trị; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 02/10/2017 và quá trình tố tụng tại tòa, nguyên đơn trình bày: Anh Hồ Văn H và chị Đỗ Thị H2 tự nguyện kết hôn vào năm 1997 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Quảng Trị. Quá trình chung sống vợ chồng lúc đầu thì hạnh phúc, về sau thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, ngày càng trầm trọng đến năm năm 2009 thì chị H2 bỏ nhà đi. Anh H đã nhiều lần tìm kiếm nhưng không có tin tức, đến năm 2013 anh H đã khởi kiện ra Tòa án yêu cầu tuyên bố chị Đỗ Thị H2 đã mất tích. Tại quyết định số 06/2013/QĐST-VDS ngày 28 tháng 3 năm 2013 của Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị đã tuyên bố chị Đỗ Thị H2, sinh năm 1975, quê quán: xã L, huyện T, tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú cuối cùng: Khóm A, thị trấn K, huyện H, tỉnh Quảng Trị mất tích. Nay anh Hồ Văn H xin được ly hôn chị Đỗ Thị H2.
Về con chung: Anh Hồ Văn H và chị Đỗ Thị H2 có 03 con chung là cháu Hồ Viết U, sinh ngày 25/12/1997, Hồ Viết H, sinh ngày 06/02/2002 và Hồ Thị Ngọc H, sinh ngày 13/5/2008. Khi chị Đỗ Thị H2 bỏ nhà đi và đem theo cháu Hồ Thị Ngọc H đi cùng. Nên anh Hồ Văn H có nguyện vọng được nuôi dưỡng Hồ Viết H, sinh ngày 06/02/2002, giao cháu Hồ Thị Ngọc H cho chị H2 nuôi dưỡng và không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu Hồ Viết U, sinh ngày 25/12/1997 đã trưởng thành.
Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án: Chị Đỗ Thị H2 là người đã bị tuyên bố mất tích theo Quyết định giải quyết việc dân sự số 06/2013/QĐST-VDS ngày 28 tháng 3 năm 2013 của Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa và không có mặt tại nơi cư trú cuối cùng nên Tòa án tiến hành niêm yết các thông báo, quyết định tố tụng theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:
Quá trình thụ lý và đến trước khi xét xử: Thẩm phán và Thư ký thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại các Điều 48, 51,203 BLTTDS như: lập hồ sơ vụ án, xác định tư cách đương sự, xác định quan hệ tranh chấp, xác minh thu thập chứng cứ, tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; việc cấp tống đạt, thông báo văn bản tố tụng đúng theo quy định.
Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Việc xét xử được tiến hành công khai, công bằng. Bảo đảm sự vô tư, khách quan trong tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án; Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70 và 71 BLTTDS. Về phía bị đơn: Tòa án đã thực hiện thủ tục niêm yết các thông báo, văn bản tố tụng đúng quy định của BLTTDS nhưng chị H2 vẫn không có tin tức gì, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, không tham gia phiên tòa vào ngày 03/01/2018 nên Tòa án phải ra Quyết định hoãn phiên tòa và đưa ra xét xử vắng mặt lần thứ hai đối với bị đơn là đúng quy định tại các Điều 227 và 228 BLTTDS.
Về ý kiến giải quyết vụ án:
Về tình cảm: Hôn nhân giữa anh H và chị H2 là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Thời gian chung sống đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng dẫn đến việc chị H2 bỏ đi không để lại tin tức gì hơn 8 năm. Sau khi anh H yêu cầu Tòa án truyên bố chị H2 mất tích. Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa ra Quyết định giải quyết việc dân sự số 06/QĐST-VDS ngày 28/3/2013 tuyên bố chị Đỗ Thị H2 mất tích. Từ đó đến nay không có tin tức gì của chị H2. Lời trình bày của nguyên đơn về mâu thuẫn vợ chồng và tình trạng hôn nhân là phù hợp với thực tế và kết quả xác minh "Tình trạng hôn nhân" của Tòa án được ghi nhận tại biên bản ngày 31/10/2017.
Về con chung: Anh Hồ Văn H và chị Đỗ Thị H2 có 03 con chung là cháu Hồ Viết U sinh ngày 25.12.1997, cháu Hồ Viết H sinh ngày 06/02/2002 và cháu Hồ Thị Ngọc H sinh ngày 13/5/2008. Cháu Hồ Viết U đã hơn 18 tuổi nên không giải quyết, anh H có nguyện vọng tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hồ Viết H. Khi chị H2 bỏ đi có đem theo cháu Hồ Thị Ngọc H; vì vậy không có cơ sở để giải quyết việc giao cháu Huê cho chị H2 nuôi dưỡng như yêu cầu của anh H.
Từ những phân tích, nhận định trên. Căn cứ Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014 khoản 4 Điều 147 BLTTDS 2015 và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của ñy ban thường vụ Quốc hội quy đinh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; đề nghị HĐXX:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho anh Hồ Văn H được ly hôn với chị Đỗ Thị H2.
- Về con chung: Giao cháu Hồ Viết H cho anh Hồ Văn H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
- Về án phí DSST: Buộc anh H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Các tài liệu chứng cứ gồm có: Quyết đinh số 06/2013/QĐST-VDS ngày 28/3/2013 của Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, Đơn xác nhận của UBND thị trấn Khe Sanh, Huyện Hướng Hóa, UBND xã L, huyện T, Giấy khai sinh của các cháu Hồ Viết U, sinh ngày 25/12/1997, Hồ Viết H, sinh ngày 06/02/2002 và Hồ Thị Ngọc Huệ, sinh ngày 13/5/2008 (bản sao), Sổ hộ khẩu (bản sao), Đơn xác nhận của Ban quản lý khối 4, thị trấn Khe Sanh, UBND thị trấn Khe Sanh ngày 04/10/2017.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà sơ thẩm, chị Đỗ Thị H2 là người đã bị tuyên bố mất tích, được triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai bằng hình thức niêm yết mà vẫn vắng mặt. Tòa án căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt chị H2.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Hồ Văn H và chị Đỗ Thị H2 tự nguyện kết hôn vào năm 1997 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Quảng Trị. Hôn nhân giữa anh H và chị H2 được pháp luật công nhận. Trong thời gian chung sống thường xảy ra mâu thuẫn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên vào năm 2009 thì chị H2 bỏ nhà đi. Anh H đã nhiều lần tìm kiếm nhưng không có tin tức, đến năm 2013 anh H đã khởi kiện ra Tòa án yêu cầu tuyên bố chị Đỗ Thị H2 đã mất tích. Tại quyết định số 06/2013/QĐST-VDS ngày 28 tháng 3 năm 2013 của Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị đã tuyên bố chị Đỗ Thị H2, sinh năm 1975, quê quán: xã L, huyện T, tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú cuối cùng: Khóm A, thị trấn K, huyện H, tỉnh Quảng Trị mất tích. Vì vậy, yêu cầu của anh Hồ Văn H được ly hôn với chị Đỗ Thị H2 là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên áp dụng khoản 1 Điều 28 BLTTDS; khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh H. Anh Hồ Văn H được ly hôn chị Đỗ Thị H2.
Về con chung: Anh Hồ Văn H và chị Đỗ Thị H2 có 03 con chung là cháu Hồ Viết U, sinh ngày 25/12/1997, Hồ Viết H, sinh ngày 06/02/2002 và Hồ Thị Ngọc H, sinh ngày 13/5/2008. Cháu Hồ Viết U, sinh ngày 25/12/1997 đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không xem xét. Đối với cháu Hồ Thị Ngọc H, sinh ngày 13/5/2008. Khi chị Đỗ Thị H2 bỏ nhà đi và đem theo cháu Hồ Thị Ngọc H đi cùng đến nay không có tin tức gì nên anh Hồ Văn H có nguyện vọng được tiếp tục nuôi cháu Hồ Viết H, sinh ngày 06/02/2002 và không yêu cầu cấp dưỡng là phù hợp với quy định pháp luật. Vì vậy, căn cứ Điều 81, Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình giao cháu Hồ Viết H, sinh ngày 06/02/2002 cho anh Hồ Văn H trực tiếp nuôi. Chị Đỗ Thị H2 không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về phân chia tài sản chung: không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 4 Điều 147 BLTTDS và điểm a khoản 5, điểm đ khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của ñy ban thường vụ Quốc hội quy đinh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc anh Hồ Văn H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh H đã nộp theo biên lai số 0006958 ngày 02/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hướng Hóa. Anh H đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của ñy ban thường vụ Quốc hội quy đinh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hồ Văn H về ly hôn. Anh Hồ Văn H được ly hôn chị Đỗ Thị H2.
- Về con chung: Giao cháu Hồ Viết H, sinh ngày 06/02/2002 cho anh Hồ Văn H trực tiếp nuôi con, chị Đỗ Thị H2 không phải cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì quyền lợi của con, khi cần thiết một hoặc hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
2. Về án phí: Anh Hồ Văn H phải chịu tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0006958 ngày 02/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hướng Hóa. Anh H đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
3. Anh Hồ Văn H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Đỗ Thị H2 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, tính từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Trị; - VKSND H.Hướng Hóa; - Chi cục THADS H. Hướng Hóa; - UBND xã L, huyện T, tỉnh Quảng Trị; - Các đương sự; - Lưu HSVA; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Trung |