vanban.org

Bản án 02/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Đinh Thị Tr.

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đinh Thị Tr và anh Nguyễn Văn N. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Văn Ng, sinh ngày 27/4/2010 và Nguyễn Tý A, sinh ngày 31/01/2012 cho chị Tr trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Anh N không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Đinh Thị Tr.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM TÂN
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 16.01.2018
V/v: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Anh Dũng

- Các Hội thẩm nhân dân: ông Phạm Hữu Ái và ông Phan Quang Sơn

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân – Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Liên – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 213/2017/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 10 năm 2017 về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2017/QĐST-HNGĐ ngày 26/12/2017, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đinh Thị Tr - sinh năm 1992 (có mặt)

Trú tại: Thôn T, xã S, huyện H, tỉnh B.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N – sinh năm 1991 (vắng mặt)

Trú tại: Thôn T, xã S, huyện H, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 22/8/2017 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Đinh Thị Tr trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn N tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn năm 2010 tại Ủy ban nhân dân xã S, huyên H, tỉnh B. Trong quá trình sống chung thì anh chị có nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã nhau. Nguyên nhân là do anh N có người phụ nữ khác nên thường xuyên chửi bới, đánh đập chị, mặc dù chị đã cố gắng chịu đựng nhưng đến nay không thể sống chung với anh N được nữa và anh N cũng đã đi sống chung với người phụ nữ khác nên vợ chồng chị đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay. Để đảm bảo cuộc sống riêng tư, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh N.

Về con chung: Vợ chồng có hai người con chung là Nguyễn Văn Ng, sinh ngày 27/4/2010 và Nguyễn Tý A, sinh ngày 31/01/2012, khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do bị đơn thường xuyên vắng nhà nên không thể tống đạt được các văn bản tố tụng và Tòa án đã tiến hành niêm yết theo quy định, bị đơn không có mặt nên không tiến hành lấy lời khai và hòa giải được.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán, HĐXX đã tuân theo đúng và đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng. Nguyên đơn đã chấp hành đúng theo quy định của pháp luật, nhưng bị đơn đã không tuân thủ theo quy định cụ thể là không có mặt trong các lần Tòa án triệu tập cũng như tại phiên tòa.

Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, thấy rằng chị Tr và anh N tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Sông Phan, Hàm Tân nên đây là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã nhau, anh N đã có hành vi đánh đập gây thương tích cho chị Tr làm cho mâu thuẫn gia đình ngày càng trầm Tr, cuộc sống chung không thể kéo dài, anh N đã bỏ nhà và không sống chung với chị Tr từ năm 2015. Nay chị Tr xin ly hôn là có cơ sở nên đề nghị HĐXX căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu của chị Tr. Về con chung, hiện nay cháu Ng và cháu A đang sống cùng với chị Tr, anh N không chăm sóc nuôi dưỡng con chung và chị Tr cũng có khă năng để nuôi dưỡng, chăm sóc con chung nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị Tr, giao cháu Ng và cháu A cho chị Tr trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về quan hệ pháp luật có tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: HĐXX thấy rằng đây là tranh chấp “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu của nguyên đơn:

Về quan hệ hôn nhân: Theo lời trình bày của nguyên đơn cũng như các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, chị Đinh Thị Tr và anh Nguyễn Văn N tự nguyện sống chung với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã S, huyện H, tỉnh B ngày 24/5/2010 đúng quy định của pháp luật nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Trong đời sống hôn nhân vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, anh N thường xuyên chửi bới, đánh đập và gây thương tích cho chị Tr, không tôn Tr gia đình chị Tr, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm Tr, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và anh N đã không sống chung với chị Tr từ năm 2015 đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Văn N nhưng anh N không có mặt nên anh N đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh do đó lời trình bày của chị Tr là có cơ sở và ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân là có căn cứ vì vậy yêu cầu xin ly hôn của chị Tr là phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên cần được chấp nhận

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân chị Tr và anh N có hai người con chung là Nguyễn Văn Ng, sinh ngày 27/4/2010 và Nguyễn Tý A, sinh ngày 31/01/2012, khi ly hôn thì chị Tr có nguyện vòng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh N phải có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con. Hội đồng xét xử thấy rằng hiện nay chị Tr đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Ng và cháu A. Tại biên bản lấy lời khai ngày 22/11/2017 thì cháu Ng trình bày có nguyện vọng được ở chung với mẹ, hơn nữa theo biên bản xác minh ngày 20/10/2017 tại Công An xã S thì anh N hiện đã bỏ đi khỏi địa phương, thỉnh thoảng mới về nên không đủ điều kiện để trực tiếp chăm sóc con chung do vậy cần giao cháu Ng và cháu A cho chị Tr trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là phù hợp và hợp với nguyện vọng của các con. Chị Tr không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147 BLTTDS; Điều 51, Điều 56, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

-Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của chị Đinh Thị Tr.

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đinh Thị Tr và anh Nguyễn Văn N.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Văn Ng, sinh ngày 27/4/2010 và Nguyễn Tý A, sinh ngày 31/01/2012 cho chị Tr trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Anh N không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2. Về án phí: Chị Đinh Thị Tr phải chịu 300.000đồng án phí HNGĐ sơ thẩm được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0016479 ngày 18/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Tân.

3. Án xử công khai, đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 16/01/2018). Đương sự vắng mặt được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

-TAND tỉnh Bình Thuận;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

-VKSND huyện Hàm Tân;

-THA dân sự huyện Hàm Tân;

-UBND xã S;

(đã ký)

-Các đương sự;

-Lưu HS.

Nguyễn Anh Dũng TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN HÀM TÂN

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TỈNH BÌNH THUẬN

Hàm Tân, ngày 16 tháng 01 năm 2018

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi 08 giờ 35 phút ngày 16/01/2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, Bình Thuận.

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Anh Dũng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Hữu Ái và ông Phan Quang Sơn

Tiến hành nghị án vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 213/2017/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 10 năm 2017 về việc: “Tranh chấp ly hôn”giữa:

Nguyên đơn: Chị Đinh Thị Tr - sinh năm 1992

Trú tại: Thôn Tân Quang, Sông Phan, Hàm Tân, Bình Thuận.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N – sinh năm 1991

Trú tại: Thôn Tân Quang, Sông Phan, Hàm Tân, Bình Thuận.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

I/ Về quan hệ pháp luật có tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Các thành viên trong hội đồng thống nhất xác định đây là tranh chấp “Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn” thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân.

Kết quả biểu quyết: 3/3

II/ Về căn cứ áp dụng: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147 BLTTDS; Điều 51, Điều 56, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

III/ Các vấn đề giải quyết:

Chấp nhận yêu cầu của chị Đinh Thị Tr.

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đinh Thị Tr và anh Nguyễn Văn N.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Văn Ng, sinh ngày 27/4/2010 và Nguyễn Tý An, sinh ngày 31/01/2012 cho chị Tr trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Anh N không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Kết quả biểu quyết: 3/3

IV/ Các vấn đề khác:

- Về án phí: Chị Đinh Thị Tr phải chịu 300.000đồng án phí HNGĐ sơ thẩm được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0016479 ngày 18/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Tân.

- Tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

Biên bản nghị án kết thúc vào hồi 08 giờ 50 phút cùng ngày, đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.

Các thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN HÀM TÂN

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TỈNH BÌNH THUẬN

Hàm Tân, ngày 26 tháng 12 năm 2017

BIÊN BẢN THẢO LUẬN

Vào hồi 15 giờ 20 phút ngày 26/12/2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, Bình Thuận.

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Anh Dũng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Hữu Ái và ông Phan Quang Sơn

Tiến hành nghị án vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 213/2017/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 10 năm 2017 về việc: “Tranh chấp ly hôn”giữa:

Nguyên đơn: Chị Đinh Thị Tr - sinh năm 1992

Trú tại: Thôn Tân Quang, Sông Phan, Hàm Tân, Bình Thuận.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N – sinh năm 1991

Trú tại: Thôn Tân Quang, Sông Phan, Hàm Tân, Bình Thuận.

Xét thấy tại phiên tòa, anh Nguyễn Văn N đã đươc tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất vắng mặt không có lý do và đề nghị hoãn phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân là có căn cứ.

Sau khi thảo luận, Hội đồng xét xử quyết định:

Căn cứ vào các Điều 227, 233 và Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Hoãn phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án HNGĐ thụ lý số 213/2017/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 10 năm 2017.

Thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa được ấn định như sau: Phiên tòa được mở lại vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 16/01/2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân.

Kết quả biểu quyết: 3/3

Các thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ