- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lý Văn Chiến khởi kiện ly hôn Hoàng Kim Mùi"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn anh Lý Văn C.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự Toà án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự Toà án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| HUYỆN HẢI HÀ TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 02/2018/HNGĐ-ST Ngày: 31/7/2018 “V/v tranh chấp về ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ – TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương Lan. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Triệu Quang Bùi.
2. Bà Nguyễn Thị Lân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vương Thị Thanh – Thư ký Tòa án Nhân dân huyện H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án Nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm công khai sơ thẩm vụ án thụ lý số: 31/2018/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2018 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2018/QĐXX-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2018, Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2018/QĐST-HNGĐ ngày 18/7/2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: anh Lý Văn C, sinh năm 1967.
Địa chỉ: thôn H, xã Q, huyện H, tỉnh Q. Có mặt.
2. Bị đơn: chị Hoàng Kim M, sinh năm 1971.
Địa chỉ: thôn H, xã Q, huyện H, tỉnh Q. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 11/4/2018 và bản tự khai, nguyên đơn anh Lý Văn C có quan điểm như sau:
Năm 1995, anh và chị Hoàng Kim M được tự do tìm hiểu rồi đi đến kết hôn và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Quảng Nghĩa, thành phố Móng Cái. Sau khi kết hôn, chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên xẩy ra cãi vã lẫn nhau. Nguyên nhân chủ yếu do tính tình không hợp, không thống nhất về kinh tế, thời gian dài hai bên không quan tâm đến nhau, không có quan hệ tình cảm. Hiện tại vợ chồng thường xuyên đi làm ăn xa nên tình cảm ngày càng xa cách. Đến nay mâu thuẫn đã trầm trọng, không thể hàn gắn được nữa. Anh C đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với chị M theo quy định của pháp luật.
Trong thời gian chung sống vợ chồng có 01 con chung: Lý Thu Hằng, sinh năm 1998. Cháu Hằng đã đủ tuổi thành niên nên anh C không đề nghị Tòa án giải quyết việc nuôi dưỡng con chung.
Về tài sản chung và khoản nợ: Anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn chị Hoàng Kim M: Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Tòa án Nhân dân huyện H đã tiến hành niêm yết công khai thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đồng thời yêu cầu chị M cung cấp thông tin về tình trạng hôn nhân. Tuy nhiên, chị M không đến Tòa án cũng như không có bất kỳ ý kiến phản hồi nào về các yêu cầu của nguyên đơn.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện H đã tiến hành xác minh tại nơi cư trú của anh chị C - M ở thôn H, xã Q, huyện H và nhà mẹ đẻ chị M tại thôn 3, xã Quảng Nghĩa, thành phố Móng Cái về tình trạng hôn nhân của anh C, chị M và được cung cấp thông tin: Chị M và anh C kết hôn từ năm 1995, sau khi chung sống một thời gian thì thường xuyên mâu thuẫn, cãi mắng nhau. Hiện tại chị M đưa con về Móng Cái làm ăn, vợ chồng đã sống ly thân. Khi Tòa án tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng thì chị M không hợp tác, không đến Tòa án nhằm gây khó khăn cho việc giải quyết ly hôn của anh C. Vì vậy đề nghị Tòa án giải quyết cho anh C được ly hôn với chị M theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa anh Lý Văn C vẫn giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với chị Hoàng Kim M. Về con chung và tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về trình tự, quá trình giải quyết vụ án đã xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Thông báo thụ lý, Kiểm tra việc tiếp cận, giao nộp, công khai chứng cứ và hòa giải đúng pháp luật. Tại phiên tòa: Thẩm phán, hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tiến hành đúng thủ tục tố tụng. Những người tham gia tố tụng về cơ bản đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, không tham gia phiên họp, phiên tòa là chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của bị đơn quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Qua xem xét đánh giá chứng cứ có trong hồ sơ kết hợp với việc hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa, đối chiếu với quy định tại điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Việc bị đơn Hoàng Kim M đã được triệu tập đến phiên toà hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 điều 227; Khoản 3 điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung tranh chấp:
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân của anh Lý Văn C và chị Hoàng Kim M có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, là hôn nhân tiến bộ và hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Hiện nay, mâu thuẫn giữa hai bên đã trầm trọng, kéo dài, hai bên đã sống ly thân, không còn quan hệ về tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm về kinh tế và tình cảm. Do đó, yêu cầu của anh C đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với chị M là có cơ sở theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Trong thời gian chung sống, vợ chồng có 01 con chung là Lý Thu Hằng, sinh năm 1998. Cháu Hằng hiện đã thành niên nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết việc nuôi dưỡng con chung giữa hai đương sự.
Về tài sản chung và khoản nợ: Anh C không đề nghị nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết, dành cho hai bên đương sự quyền khởi kiện vụ án dân sự khi một trong hai bên có yêu cầu.
Về án phí: Anh Lý Văn C phải nộp án phí vào ngân sách Nhà nước theo quy định.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; Khaonr 3 điều 228; Điều 266, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử
1. Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn anh Lý Văn C.
2. Anh Lý Văn C được ly hôn chị Hoàng Kim M.
3. Về án phí: anh Lý Văn C phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn đồng). Anh C đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002730 ngày 19/4/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện H; - TAND tỉnh Q; - Chi cục THSDS huyện H; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đỗ Thị Hương Lan |