- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân H - Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Căn cứ chính? Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 30 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2017/HSST Ngày 13-10-2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Hiến.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bà Lò Thị Minh và bà Lê Thị Chanh.
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Thu Trang là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Lường Văn Sinh - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 10 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2017/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2017/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo:
Nguyễn Xuân H, sinh năm 1954 tại huyện X, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Tiểu khu A, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Hưu trí; trình độ văn hoá (học vấn): 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Ngọc H2 - sinh năm: 1932 và bà Vũ Thị T2 (đã chết); có vợ là Đinh Thị T và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 10 tháng 7 năm 2017. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Đinh Thị T, sinh năm: 1952. Nơi cư trú: Tiểu khu A, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ 50 phút ngày 10/7/2017, tổ công tác Công an phụ trách xã số 01 phối hợp với Công an thị trấn Mộc Châu làm nhiệm vụ tại Tiểu khu A, thị trấn M, huyện M phát hiện Nguyễn Xuân H đang điều khiển xe máy nhãn hiệu YAMAHA, BKS: 26H6-7905 có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác tiến hành dừng xe để kiểm tra hành chính về ma túy, H tự giác giao nộp 01 gói nilon màu trắng bên trong đựng cục bột màu trắng nghi là Hêrôin, H khai nhận đó là Hêrôin của H mua về để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng và dẫn giải Nguyễn Xuân H đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu để điều tra làm rõ. Tạm giữ của Nguyễn Xuân H 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA, BKS: 26H6-7905.
Ngày 10/7/2017 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu và Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành mở niêm phong, xác định trọng lượng chất bột màu trắng nghi là Hêrôin thu giữ của Nguyễn Xuân H có trọng lượng 0,19 gam. Lấy 0,10 gam làm mẫu trưng cầu giám định xác định có phải là chất ma túy không? Thuộc loại chất ma túy gì? Trọng lượng (khối lượng) của mẫu giám định là bao nhiêu? Mẫu có ký hiệu H. Tại kết luận giám định số 725/KLMT ngày 17 tháng 7 năm 2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu H là chất ma túy; Loại chất Hêrôin; Trọng lượng của mẫu gửi giám định là 0,10 gam; Tổng trọng lượng chất ma túy thu giữ là 0,19 gam, loại chất Hêrôin”.
Quá trình điều tra Nguyễn Xuân H khai nhận: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 10/7/2017 Nguyễn Xuân H điều khiển xe máy nhãn hiệu YAMAHA, BKS: 26H6-7905 đi từ nhà đến khu vực nhà nghỉ Suối Tiên thuộc Tiểu khu A, thị trấn M, huyện M mục đích tìm mua ma túy sử dụng. Khi đến nơi Nguyễn Xuân H đã gặp một người đàn ông khoảng 60 tuổi không quen biết đang đi bộ trên đường, qua nói chuyện H biết được người đàn ông đó tên là H3. H hỏi và mua được của người đàn ông đó 01 gói Hêrôin với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được Hêrôin, H cầm gói Hêrôin ở ngón trỏ và ngón cái bàn tay trái rồi điều khiển xe máy đi về nhà. H đi được khoảng 200 mét thì bị tổ công tác đang làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang.
Bản cáo trạng số 185/CT-VKS ngày 02/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố Nguyễn Xuân H về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và áp dụng các căn cứ pháp luật xử phạt bị cáo như sau:
1. Áp dụng khoản 1, 5 Điều 194; điểm p khoản 1, 2 Điều 46; khoản 2, 3 Điều 30 Bộ luật Hình sự năm 1999; Điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội khóa 14; khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H từ 15 tháng đến 18 tháng tù.
Phạt bổ sung bị cáo từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự 1999; khoản 1, 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án:
Tạm giữ 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA – SIRIUS, vỏ màu xanh lục đậm, BKS 26H6-7905, sm + sk: 067075, 01 gương chiếu hậu bé, xe đã qua sử dụng cũ của bị cáo Nguyễn Xuân H và vợ là Đinh Thị T để đảm bảo thi hành án về phần hình phạt bổ sung và án phí.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 0,09 gam Hêrôin và vỏ gói niêm phong ban đầu.
3. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Xuân H khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai trong quá trình điều tra.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Xuân H vẫn giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, bị cáo không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc bị cáo đã thực hiện.
Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 10 giờ 00 phút ngày 10/7/2017; vật chứng đã thu giữ; biên bản mở niêm phong vật chứng, xác định trọng lượng, lấy mẫu giám định; kết luận giám định; lời khai của những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ căn cứ kết luận: Ngày 10/7/2017 Nguyễn Xuân H đã có hành vi cất giấu 0,19 gam Hêrôin, mục đích để sử dụng cho việc nghiện ma túy của bản thân. Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999, quy định mức hình phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định người nào tàng trữ trái phép từ 0,1 gam đến dưới 05 gam Hêrôin thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội khóa 14 và khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì cần áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 để quyết định hình phạt theo hướng có lợi cho bị cáo. Vì vậy, bị cáo Nguyễn Xuân H chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy với mức hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù.
Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Xuân H là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới chế độ quản lý độc quyền chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội.
Xét về nhân thân của bị cáo thấy rằng bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý. Bị cáo nhận thức hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhận thức được tác hại của ma tuý đối với bản thân, gia đình và xã hội nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, cần cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi áp dụng hình phạt đối với bị cáo cũng cần xem xét, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra đã tạm giữ của bị cáo Nguyễn Xuân H 01 chiếc xe máy, do đó cần áp dụng hình phạt bổ sung phạt bị cáo một khoản tiền nhất định là phù hợp.
Về vật chứng của vụ án:
Đối với 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA BKS 26H6-7905 bị cáo đã sử dụng làm phương tiện phạm tội. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định chiếc xe máy trên là tài sản chung của vợ chồng bị cáo. Do đó cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án về phần hình phạt bổ sung và án phí.
Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 0,09 gam Hêrôin và vỏ gói niêm phong ban đầu là vật Nhà nước cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm a, đ khoản 1 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với người đàn ông tên Hảo đã bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Xuân H (như bị cáo khai), ngày 11/7/2017 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã tiến hành xác minh tại Ủy ban nhân dân thị trấn Mộc Châu, kết quả xác minh ở Tiểu khu A, thị trấn M không có người đàn ông nào tên là H3 như lời khai của bị cáo. Do vậy không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Xét thời hạn tạm giam của bị cáo còn lại trên 45 ngày, Hội đồng xét xử không ra quyết định tạm giam sau khi xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
1. Áp dụng khoản 1, 5 Điều 194; điểm p khoản 1, 2 Điều 46; khoản 2, 3 Điều 30 Bộ luật Hình sự năm 1999; Điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội khóa 14; khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H 15 (Mười lăm) tháng tù.
Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 10/7/2017.
Phạt bổ sung bị cáo 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).
2. Áp dụng khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự 1999; khoản 1, 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án:
Tạm giữ 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA – SIRIUS, vỏ màu xanh lục đậm, BKS 26H6-7905, sm + sk: 067075, 01 gương chiếu hậu bé, xe đã qua sử dụng cũ của bị cáo Nguyễn Xuân H và vợ là Đinh Thị T để đảm bảo thi hành án về phần hình phạt bổ sung và án phí.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 0,09 gam Hêrôin và vỏ gói niêm phong ban đầu.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Nguyễn Xuân H phải chịu là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Mộc Châu; - Công an huyện Mộc Châu; - Chi cục THADS huyện Mộc Châu; - Trại giam; - THAHS; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Bị cáo; - Người có QLNV liên quan; - Lưu: hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Trần Thị Hiến |