vanban.org

Bản án 02/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên Tuyên án 26/10/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn H 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 04/7/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự nă…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 41 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUẦN GIÁO
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2017/HSST
Ngày: 26/10/2017.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Việt Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Xuân Khuê và bà Bạc Thị Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lợi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 10 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2017/HSST ngày 03 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn H; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 28/3/1972.

Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Bản T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên.

Dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9.

Con ông: Lò Văn G; sinh năm: 1952; con bà: Lò Thị D, (đã chết).

Bị cáo có vợ: Quàng Thị H, sinh năm: 1974 và có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 1994, con nhỏ nhất sinh năm 2005.

Tiền sự: Không; tiền án: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 04/7/2017 và tạm giam từ ngày 07/7/2017 cho đến nay. Bị cáo được trích xuất áp giải có mặt tại phiên tòa.

NHẬN THẤY:

Bị cáo Lò Văn H bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố về hành vi phạm tội như sau: Hồi 10 giờ 10 phút ngày 04/7/2017, tổ công tác Công an huyện Tuần Giáo đang làm nhiệm vụ tại khu vực bản T, thị trấn T, huyện T, phát hiện Lò Văn H đang tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ 05 (năm) gói Heroine trong túi áo H đang mặc, tạm giữ số tiền 1.000.000đ, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Cùng ngày Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuần Giáo đã ra lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở, đồ vật, vùng phụ cận đối với Lò Văn H. Quá trình khám xét Cơ quan điều tra không thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài sản gì liên quan đến vụ án và dẫn giải Lò Văn H về trụ sở Công an huyện Tuần Giáo để điều tra làm rõ.

Ngày 04/7/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành mở niêm phong xác định trọng lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng. Qua cân xác định trọng lượng 05 (năm) gói Heroine thu giữ của Lò Văn H có tổng trọng lượng là 0,23 gam, trích 0,04 gam làm mẫu vật gửi giám định, vật chứng còn lại là 0,19 gam. Ngày 05/7/2017, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuần Giáo ra Quyết định trưng cầu giám định số 112. Tại bản kết luận giám định số 630/GĐ-PC54 ngày 28/7/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: “mẫu vật gửi giám định được trích ra từ vật chứng thu giữ của Lò Văn H là chất ma túy: Loại Heroine”.

Tại Cơ quan điều tra Lò Văn H đã khai nhận rõ hành vi Mua bán trái phép chất ma túy của mình như sau: Khoảng 19 giờ ngày 03/7/2017, Lò Văn H từ nhà một mình đi bộ lên khu vực bản N, xã Q, huyện T tìm mua Heroine về để bán thì gặp một người đàn ông H không biết tên, địa chỉ đang đứng ở ven đường. Gặp người đàn ông đó H chủ động hỏi “Có Heroine không? bán cho anh hai trăm rưỡi”, người đàn ông trả lời “Có”, H lấy trong người ra 250.000đ đưa cho người đàn ông đó, người đàn ông nhận tiền H đưa và nói “Chờ ở đây”, người đàn ông đi bộ vào một ngõ trong bản N, xã Q, khoảng 20 phút sau người đàn ông này quay lại đưa cho H 01 (một) gói nhỏ Heroine được gói bằng túi nilon màu trắng, H nhận gói Heroine. Việc trao đổi, mua bán Heroine lúc đó diễn ra chỉ có H và người đàn ông đó biết với nhau ngoài ra không có ai biết và tham ra cùng. Sau khi mua được Heroine, H đi về nhà lấy gói Heroine vừa mua được dùng dao lam chia gói Heroine thành 06 (sáu) gói nhỏ và cất vào túi áo đang mặc trên người để ai đến mua thì H lấy ra bán. Đến khoảng 08 giờ ngày 04/7/2017, H đang ở nhà một mình thì có một người đàn ông, H không biết tên, tuổi, địa chỉ đến nhà, gặp H, người đàn ông đó hỏi “Anh có Heroine không? bán cho em năm mươi nghìn”, H trả lời “Có”, người đàn ông đó lấy trong người ra 50.000đ đưa cho H, H nhận tiền rồi lấy trong túi áo ngực bên phải đang mặc 01 (một) gói Heroine đưa cho người đàn ông, người đàn ông này nhận gói Heroine sau đó đi về. Việc trao đổi, mua bán Heroine lúc đó diễn ra chỉ có H và người đàn ông đó biết với nhau ngoài ra không có ai biết và tham ra cùng. Đến khoảng 10 giờ 10 phút cùng ngày, H bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuần Giáo phát hiện thu giữ.

Tại bản Cáo trạng số: 87/QĐ-VKS-HS ngày 03 tháng 10 năm 2017, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đã truy tố bị cáo Lò Văn H về tội: Mua bán trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 194, điển p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự. Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự, Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín có trọng lượng 0,19 gam Heroine. Đối với số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) Công an tạm giữ, trong đó có 50.000đ (năm mươi mươi nghìn đồng) bị cáo đã bán ma túy đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước; số tiền 950.000đ (chín trăm năm mươi nghìn đồng) còn lại không liên quan đến hành vi phạm tội, nên đề nghị trả lại cho bị cáo. Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của bị cáo, người bào chữa và Kiểm sát viên.

XÉT THẤY:

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lò Văn H đã khai và thừa nhận: Khoảng 19 giờ ngày 03/7/2017 bị cáo mua 01 gói Heroine với giá 250.000đ (hai trăm năm mươi nghìn đồng) của một người đàn ông (không biết tên, tuổi địa chỉ) tại khu vực bản bản N, xã Q. Bị cáo mang Heroine về nhà dùng dao lam chia Heroine thành 06 gói nhỏ, mục đích để sử dụng và bán lẻ. Khoảng 08 giờ ngày 04/7/2017 bị cáo bán cho một người dàn ông không biết tên 01 gói Heroine với giá 50.000đ (năm mươi nghìn đồng), đến khoảng 10 giờ 10 phút cùng ngày ngày 04/7/2017 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuần Giáo phát hiện thu giữ 05 gói Heroine còn lại. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và biên bản niêm phong vật chứng ngày 04/7/2017; biên bản ghi lời khai và biên bản hỏi cung bị cáo tại Cơ quan điều tra; biên bản mở niêm phong xác định trọng lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng; kết luận giám định 0,23 gam chất bột màu trắng thu giữ của bị cáo Lò Văn H gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine. Ngoài ra lời khai của bị cáo còn phù hợp với bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, các tài liệu và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Trong phần tranh luận, bị cáo H toàn nhất trí với quan điểm truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên về phần tội danh cũng như khung hình phạt. Nên Hội đồng xét xử kết luận: Bị cáo Lò Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự.

Bởi vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố bị cáo theo tội danh, khoản và điều nêu trên là H toàn chính xác.

Xét tính chất và mức độ phạm tội thấy: Bị cáo Lò Văn H phạm tội nghiêm trọng. Hành vi Mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý. Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến trật tự trị an và an toàn xã hội trên địa bàn huyện T nói riêng và tỉnh Điện Biên nói chung. Hiện nay tệ nạn nghiện chất ma túy tại huyện T đang phát triển theo chiều hướng rất xấu trong một bộ phận thanh thiếu niên, tạo sự lo lắng cho toàn huyện T. Nghiện chất ma túy không chỉ gây mất trật tự an toàn xã hội, băng hoại đạo đức thế hệ trẻ mà còn lây nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng qua đường tiêm chích. Bị cáo nhận thức được việc mua bán trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật. Nhưng vì mục đích cá nhân, bị cáo đã bất chấp pháp luật mua bán trái phép chất ma túy. Do vậy hành vi của bị cáo cần được xử lý nghiêm khắc theo quy định của pháp luật, mới có tác dụng phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh chống tội phạm.

Xét tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng và nhân thân: Tại giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Lò Văn H thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự; tại hồ sơ thể hiện bị cáo có bố đẻ được Nhà nước tặng Kỷ niệm chương Thanh niên xung phong, tuy nhiên đây không phải tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự. Bị cáo sinh ra lớn lên tại bản T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên; từ nhỏ sống phụ thuộc gia đình, học hết lớp 9 nghỉ học ở nhà lao động sản xuất cùng gia đình. Năm 1990 đi nghĩa vụ quân sự đóng quân tại thị xã M, tỉnh Điện Biên, đến năm 1993 xuất ngũ về địa phương sinh sống; năm 1994 kết hôn. Ngày 04/7/2017 bị bắt giữ về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo đã có thời gian được rèn luyện trong quân ngũ, lẽ ra bị cáo phải sống có kỷ luật hơn. Cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo thông qua hình phạt để răn đe, giáo dục bị cáo thành người lương thiện, có ý thức tuân thủ pháp luật, đồng thời giúp bị cáo cai nghiện chất ma túy.

Ngoài hình phạt chính, lẽ ra bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự. Xét thấy điều kiện kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo lao động tự do không có thu nhập ổn định, nên không có khả năng thi hành. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo Lò Văn H từ 24 tháng đến 30 tháng tù, không phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy là phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo nên cần chấp nhận.

Đối với người đàn ông, bị cáo khai đã bán cho bị cáo 01 gói Heroine với giá 250.000đ vào ngày 03/7/2017. Qua điều tra bị cáo khai khi trao đổi mua bán ma túy chỉ có bị cáo và người đàn ông biết với nhau, ngoài ra không có ai biết. Do vậy, Cơ quan điều tra không đủ căn cứ làm rõ, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vật chứng vụ án: Đối với 01 gói niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín có trọng lượng 0,19 gam Heroine cần tịch thu và tiêu hủy. Đối với số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) Công an tạm giữ, trong đó có 50.000đ (năm mươi mươi nghìn đồng) bị cáo đã bán ma túy cần tịch thu sung quỹ Nhà nước; số tiền 950.000đ (chín trăm năm mươi nghìn đồng) còn lại là bị cáo đi làm thuê mà có không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo theo quy định tại Điều 41 Bộ luật hình sự và Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

Án phí: Cần căn cứ vào Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

2. Hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lò Văn H 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 04/7/2017.

3. Vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự, Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín có trọng lượng 0,19 gam Heroine; tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 50.000đ (năm mươi nghìn đồng); trả lại cho bị cáo số tiền 950.000đ (chín trăm năm mươi nghìn đồng) theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15/9/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo.

4. Án phí:

Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 26/10/2017).

Cỡ chữ