vanban.org

Bản án 02/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên Xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Vũ Hồng T. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị Nguyễn Thị N và anh Vũ Hồng T. Anh Vũ Hồng T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Vũ Đình Sĩ N - sinh ngày 25/10/2009 cho đến khi con thành niên (18 tuổi). Chị Nguyễn Thị N không… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị N khởi kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Vũ Hồng T"
  • Tòa quyết gì? Tuyên Xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VÂN ĐỒN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NINH
Bản án số: 02/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 27/7/2017
V/v: Tranh chấp vè Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Quang T

2. Bà Nguyễn Hải Y

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vân Đồn.

Ngày 27 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 53/2017/TLST - HNGĐ ngày 22/5/2017, về việc “ Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2017/QĐXX-ST ngày 13/7/2017 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1990, có mặt.

Địa chỉ: Khu x, thị trấn C, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh.

2. Bị đơn: Anh Vũ Hồng T, sinh năm 1982, có mặt.

Địa chỉ: Khu x, thị trấn C, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 14/5/2017 và trong quá trình giải quyết xét xử vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày:

Về hôn nhân: Chị N và anh T kết hôn ngày 18/6/2009 tại Uỷ ban nhân dân thị trấn C, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh là tự nguyện. Sau khi kết hôn chị và anh T chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, do anh Triều ham chơi cờ bạc, bỏ bê công việc gia đình. Chị N khuyên bảo nhiều lần nhưng anh T không tiếp thu nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng nhiều hơn. Đến tháng 8 năm 2016, chị N về sống cùng bố mẹ đẻ, ly thân anh T từ đó đến nay. Mâu thuẫn của vợ chồng anh, chị đã được hai bên gia đình nội, ngoại, tổ hòa giải khu phố hòa giải nhưng anh, chị không đoàn tụ được. Anh T cũng không còn tình cảm yêu thương chị, nhưng cố tình gây ức chế về tinh thần cho chị nên không đồng ý ly hôn. Đến nay chị nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng, chị yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh T.

Về con chung: Chị N và anh T có một con chung: Vũ Đình Sĩ N - sinh ngày 25/10/2009. Chị N đề nghị hiện nay chị chưa có chỗ ở ổn định và cũng để thuận tiện cho việc học của con N, nên khi ly hôn chị giao con N cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, chị không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản, vay nợ chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản và vay nợ chung.

Tại Văn bản ý kiến, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị đơn anh Vũ Hồng T trình bày:

Về hôn nhân: Anh T thừa nhận về thời gian kết hôn, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn như chị N trình bày là đúng. Anh T cho rằng nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn của vợ chồng là do anh cũng có chơi đánh bạc, kinh tế gia đình khó khăn. Tháng 8 năm 2016 chị N ly thân với anh về ở với bố mẹ đẻ còn anh T và con N ở với bố mẹ đẻ của anh T từ đó đến nay, mặc dù anh cũng như hai bên gia đình nội, ngoại và khu phố đã có nhiều biện pháp thuyết phục chị Nga về chung sống đoàn tụ cùng anh, nhưng đến nay không đạt được. Nguyện vọng của anh mong muốn chị Nga đoàn tụ nên anh không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh và chị N có 01 con như chị Nga trình bày là đúng. Anh T có quan điểm nếu phải ly hôn anh trực tiếp nuôi con và không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản, vay nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Vân Đồn nhận định:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Vũ Hồng T đăng ký kết hôn ngày 18/6/2009 tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện Vân Đồn là tự nguyện, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn vợ chồng cùng chung sống tại thị trấn C, huyện Vân Đồn những năm đầu hạnh phúc. Đến năm 2016 xảy ra mâu thuẫn do anh T ham chơi đánh bạc, chị N khuyên bảo không được, dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng nhiều hơn. Từ tháng 8/2016 đến nay chị N và anh T sống ly thân không còn quan hệ về tình cảm. Quá trình giải quyết vụ án, anh Triều thừa nhận anh và chị N có mâu thuẫn từ năm 2016, tuy đã cố gắng hàn gắn nhưng không khắc phục được mâu thuẫn. Tòa án đã triệu tập chị N, anh T nhiều lần để hòa giải, tạo điều kiện để cho anh, chị bỏ qua những khuyết điểm của nhau cùng khắc phục, hàn gắn tình cảm vợ chồng, nhưng vẫn không có kết quả đoàn tụ gia đình.

Anh T không đồng ý ly hôn nhưng thừa nhận mâu thuẫn từ năm 2016 và đến tháng 8 năm 2016, anh, chị sống ly thân không còn quan hệ về tình cảm, mặc dù anh T đã có nhiều biện pháp hàn gắn tình cảm nhưng vẫn không có kết quả đoàn tụ. Tại phiên tòa chị N vẫn cương quyết đề nghị được ly hôn. Như vậy mâu thuẫn giữa chị N và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân đến nay không đạt được, yêu cầu của chị N được ly hôn anh T là có căn cứ, phù hợp khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị N và anh T có một con là Vũ Đình Sĩ N - sinh ngày 25/10/2009. Chị N, anh T thỏa thuận trường hợp ly hôn anh T sẽ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con N, chị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét điều kiện nuôi con cũng như nguyện vọng của chị N, anh T và cháu Vũ Đình Sĩ N thì anh Triều là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Nguyên và chị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp với khoản 2 Điều 81của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản, vay nợ chung: Chị N và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Khoản 1, 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên Xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Vũ Hồng T.

Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị Nguyễn Thị N và anh Vũ Hồng T. Anh Vũ Hồng T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Vũ Đình Sĩ N - sinh ngày 25/10/2009 cho đến khi con thành niên (18 tuổi). Chị Nguyễn Thị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Nguyễn Thị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con Vũ Đình Sĩ Nguyên mà không ai được cản trở.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị N đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0002814 ngày 22/5/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh. Chị N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, bị đơn báo cho biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 27/7/2017).

Cỡ chữ