vanban.org

Bản án 01 — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đào Q T.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Đào Q T được ly hôn với chị Nguyễn Thị Kim H. Về con chung: Giao con chung tên Đào Nguyễn Thiên P, sinh ngày 19/7/2015 cho anh Đào Q T trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị Kim H chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung do anh Đào Q T chưa có yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đào Quang T - Nguyễn Thị Kim H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đào Q T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản ánsố: 01/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 06 - 01 - 2025
V/v tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Kim Loan;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Hoàn.

Bà Nguyễn Thị Kim Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy.

Trong ngày 06 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 464/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 177/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 158/2024/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Đào Q T, sinh năm 1981.

Địa chỉ: Ấp T, xã Tam Bình, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1986.

Địa chỉ: Ấp B, xã Tam Bình, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

(Anh T có đơn xin vắng mặt; chị H vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 13/8/2024, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Đào Q T trình bày:

Anh và chị Nguyễn Thị Kim H cưới nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long Trung, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang vào ngày 09/9/2004. Sau khi cưới nhau, vợ chồng chung sống hạnh P được một thời gian thì đến đầu năm 2019 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên cải vã nhau. Vợ chồng anh đã ly thân từ đó đến nay. Nay, tình cảm vợ chồng đã không còn, mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn được nên anh yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị Kim H.

- Về con chung: Có 02 con chung tên Đào Nguyễn Nhựt Q, sinh ngày 11/11/2006 và Đào Nguyễn Thiên P, sinh ngày 19/7/2015. Cháu Đào Nguyễn Nhựt Q đã trưởng thành và có khả năng lao động được, anh không yêu cầu giải quyết. Anh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Đào Nguyễn Thiên P, chưa yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn là chị Nguyễn Thị Kim H đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự nhưng chị H vẫn không có ý kiến và vắng mặt tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Kim H đã được Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và anh Đào Q T có đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt chị H, anh T.

Xét yêu cầu xin ly hôn của anh Đào Q T, Hội đồng xét xử nhận thấy: Anh Đào Q T và chị Nguyễn Thị Kim H có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Sau khi cưới nhau vợ chồng chung sống hạnh P được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi. Xét thấy, quan hệ hôn nhân của anh T, chị H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên anh T yêu cầu được ly hôn với chị H là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh T được ly hôn với chị H.

Về con chung: Có 02 con chung tên Đào Nguyễn Nhựt Q, sinh ngày 11/11/2006 và Đào Nguyễn Thiên P, sinh ngày 19/7/2015. Cháu Đào Nguyễn Nhựt Q đã trưởng thành và có khả năng lao động được nên không yêu cầu giải quyết. Hiện cháu P đang sống cùng với anh T và cháu P có nguyện vọng được sống chung với cha là anh T. Do đó, Hội đồng xét xử giao cháu P cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục.

- Về cấp dưỡng: Anh T chưa yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử chưa giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh T và chị H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Anh Đào Q T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đào Q T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Đào Q T được ly hôn với chị Nguyễn Thị Kim H.

2. Về con chung: Giao con chung tên Đào Nguyễn Thiên P, sinh ngày 19/7/2015 cho anh Đào Q T trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị Kim H chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung do anh Đào Q T chưa có yêu cầu.

Chị Nguyễn Thị Kim H được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Nếu chị H lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì anh T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của chị H.

Vì lợi ích của con khi cần thiết hai bên đều có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí:

Anh Đào Q T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng anh đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0016864 ngày 01/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, anh T đã thi hành xong án phí.

4 . Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ