vanban.org

Bản án 01

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Văn M (T) và Nguyễn Văn N (T) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt: Bị cáo Trần Văn M (T): 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 16/9/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Trần Văn M và Nguyễn Văn N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Văn M (T) và Nguyễn Văn N (T) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAM LỘ
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án: 01/2022/HSST

NHÂN DANH

Ngày 19-01-2022

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LỘ

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

+ Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Lê Hoài Thủy.

+ Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Như Chiến;

2. Ông Nguyễn Văn Vinh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Tường Vy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cam Lộ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 01 năm 2022, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2021/TLST - HS ngày 22/12/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2022/QĐXXST-HS ngày 05/01/2022 đối với các bị cáo:

1. Trần Văn M, tên gọi khác: T; sinh ngày 03 tháng 8 năm 1999 tại Quảng Trị; nơi cư trú: thôn S, xã C, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: đầu bếp; con ông Trần Văn H, sinh năm 1965 (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1967, trú tại: thôn S, xã C, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị; vợ con chưa có; tiền án: không có;

Tiền sự: 01 tiền sự

Ngày 13/7/2021 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Cam Chính xử phạt hành chính 750.000đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã thi hành ngày 22/7/2021.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/9/2021 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Cam Lộ, có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Văn N, tên gọi khác: T; sinh ngày 23 tháng 4 năm 1995 tại Quảng Trị; nơi cư trú: thôn Bảng Đông, xã Cam Nghĩa, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: phụ hồ; con ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1954 và bà Trần Thị T, sinh năm 1961, trú tại: thôn B, xã C, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị; vợ con chưa có; tiền án: Không có.

Tiền sự: có 01 tiền sự

Ngày 14/11/2020 bị Công an xã Cam Nghĩa xử phạt hành chính 500.000đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã thi hành ngày 25/11/2020.

Quá trình bản thân:

Ngày 17/11/2014 bị Công an huyện Cam Lộ ra quyết định xử phạt hành chính 2.000.000đồng về hành vi xâm hại đến sức khỏe người khác, đã thi hành ngày 19/11/2014.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/9/2021 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Cam Lộ, có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

+ Bà Trần Thị Q, sinh năm: 1972; nơi cư trú: thôn V, xã C, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

+ Ông Hoàng Văn C, sinh năm 1976; nơi cư trú: thôn B, xã C, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 16/9/2021, sau khi dự sinh nhật bạn về, Trần Văn M rủ Nguyễn Văn N sử dụng ma túy, N đồng ý và đưa cho M 100.000 đồng, M lấy ra 150.000 đồng góp tiền mua ma túy sử dụng chung. Trần Văn M nói N điều khiển xe mô tô BKS 43S8-4380 chở mình đi về thành phố Đông Hà mua ma túy. Khi về gần đến thành phố Đông Hà, M sử dụng điện thoại gọi vào số 0835.559.345 của một người đàn ông không rõ, lai lịch ở Phường 4, thành phố Đông Hà và nói “T ở Cùa đây” đồng thời hỏi mua 07 viên hồng phiến với giá 250.000 đồng. Người đàn ông này nói M đi đến khu vực ngã ba đường Quốc lộ 9 giao với đường vào Công ty phân bón Bình Điền ở Phường 4, thành phố Đông Hà để mua bán ma túy. Nguyễn Văn N điều khiển xe mô tô chở Trần Văn M đi đến khi vực nói trên dừng xe ở bên phải đường Quốc lộ 9 theo hướng Cam Lộ - Đông Hà đứng đợi. Khoảng 05 phút sau có một người đàn ông đi bộ đến chỗ N và M đang ngồi đợi. Trần Văn M bước về phía người đàn ông này, thấy vậy người này hỏi “T à?” thì M trả lời lại “ừ”, lúc này người đàn ông này đưa cho M 01 ống nhựa màu cam, sọc trắng bên trong có chứa 07 viên hồng phiến, M đưa lại cho người này số tiền 250.000 đồng rồi quay lại chỗ N ngồi đợi cả hai đi lên huyện Cam Lộ, khi đến chốt kiểm soát phòng, chống dịch Covid-19 tại Km7+730 Quốc lộ 9 thuộc địa phận thôn Vĩnh Đại, xã Cam Hiếu, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị thì bị lực lượng Công an huyện Cam Lộ dừng xe kiểm tra. Trần Văn M đã thả đoạn ống hút nhựa có chứa 07 viên hồng phiến ma túy đang cầm trên tay phải xuống đường thì bị phát hiện bắt quả tang.

Tại bản cáo trạng số 02/CT-VKS ngày 20/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị đã truy tố các bị cáo Trần Văn M và Nguyễn Văn N về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại bản kết luận giám định số 952/KLGĐ ngày 21/9/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Quảng Trị kết luận: 07 viên nén màu hồng chứa trong phong bì được niêm phong ký hiệu M1 gửi đến giám định là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,6700g gam;

Methamphetamine là chất Ma túy nằm trong danh mục II, STT: 323 Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị giữ nguyên bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử Tuyên bố các bị cáo Trần Văn M (T) và Nguyễn Văn N (T) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 BLHS xử phạt:

Bị cáo Trần Văn M (T): từ 18 đến 21 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 16/9/2021.

Bị cáo Nguyễn Văn N (T): 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 16/9/2021.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 136 BLTTHS; Điều 47 BLHS tuyên tiêu hủy:

0,5972g chất bột màu hồng hoàn lại sau giám định là ma túy loại Methamphetamine cùng bao gói sau giám định được niêm phong trong túi ký hiệu mã số PS3A 103220 của phòng kỹ thuật hình sự (PC09) – Công an tỉnh Quảng Trị; 01 đoạn ống hút nhựa màu cam, sọc trắng, hình trụ tròn dài 5,9cm, đường kính 0,5cm được dán kín hai đầu, trên thân bị xẻ dọc do bóc tách.

(Số vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cam Lộ theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 22/12/2021).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tội danh: Ngày 16/9/2021 Trần Văn M và Nguyễn Văn N bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ 07 viên nén màu hồng là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,6700gam. Hành vi trên của Trần Văn M và Nguyễn Văn N đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS. Điều luật có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước, các bị cáo đều có tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng vẫn tiếp tục thực hiện hành vi tàng trữ nên cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới đủ răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét vai trò của các bị cáo: Bị cáo M là người khởi xướng và là người trực tiếp giao dịch mua ma túy. N tham gia đồng phạm với vai trò giúp sức nên M phải chịu hình phạt cao hơn so với N.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự không có. Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thần khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Về vật chứng thu giữ trong vụ án gồm:

0,5972g chất bột màu hồng hoàn lại sau giám đinh là ma túy loại Methamphetamine cùng bao gói sau giám định được niêm phong trong túi ký hiệu mã số PS3A 103220 của phòng kỹ thuật hình sự (PC09) – Công an tỉnh Quảng Trị; 01 đoạn ống hút nhựa màu cam, sọc trắng, hình trụ tròn dài 5,9cm, đường kính 0,5cm được dán kín hai đầu, trên thân bị xẻ dọc do bóc tách. Đây là vật chứng Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

(Số vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cam Lộ theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 22/12/2021).

Ngoài ra còn thu giữ của các bị cáo:

- 01 ĐTDĐ loại bàn phím bấm, nhãn hiệu Mobell Model C206, vỏ màu đen, số Imei 1: 830011600412640, số Imei 2: 830012600412648, bên trong có gắn 01 thẻ sim Vinaphone.

- 01 ĐTDĐ loại bàn phím bấm, nhãn hiệu KINGREAT MODEL M500, vỏ màu đen, số Imei 1: 359517101179000, số Imei 2: 359517101179000, bên trong có gắn 01 thẻ sim Itelecom.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu SUNDAR, màu đỏ, BKS 43S8-4380, số máy VTMSD152FMH4002437, số khung VDPPCG0021P013770, xe đã qua sử dụng.

Chiếc điện thoại 01 ĐTDĐ loại bàn phím bấm, nhãn hiệu Mobell Model C206 là máy của bà Trần Thị Lan do M mượn bà L không biết M sử dụng vào việc phạm tội.

Điện thoại di động loại bàn phím bấm, nhãn hiệu KINGREAT MODEL M500 của bị cáo N không liên quan đến hành vi phạm tội.

Xe mô tô nhãn hiệu SUNDAR, màu đỏ, BKS 43S8-4380của anh Nguyễn Văn Q cho M mượn và không biết M dùng vào việc thực hiện hành vi phạm tội.

Trong giai đoạn điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu toàn bộ số tài sản trên và không ai có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với người bán ma túy cho Trần Văn M là Lương Văn N đã bị cơ quan cảnh sát Công an huyện Cam Lộ bắt và khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can theo quy định pháp luật.

Thời hạn tạm giam của các bị cáo còn dưới 45 ngày nên tạm giam các bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

Về thủ tục tố tụng: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Văn M (T) và Nguyễn Văn N (T) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt:

Bị cáo Trần Văn M (T): 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 16/9/2021.

Bị cáo Nguyễn Văn N (T): 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 16/9/2021.

3. Về xử lý vật chứng: Tuyên: Tịch thu và tiêu hủy:

0,5972g chất bột màu hồng hoàn lại sau giám đinh là ma túy loại Methamphetamine cùng bao gói sau giám định được niêm phong trong túi ký hiệu mã số PS3A 103220 của phòng kỹ thuật hình sự (PC09) – Công an tỉnh Quảng Trị; 01 đoạn ống hút nhựa màu cam, sọc trắng, hình trụ tròn dài 5,9cm, đường kính 0,5cm được dán kín hai đầu, trên thân bị xẻ dọc do bóc tách.

(Số vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cam Lộ theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 22/12/2021).

4. Về án phí: Các bị cáo Trần Văn M và Nguyễn Văn N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

5. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ