- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị P.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – CẦN THƠ THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2026/HNGĐ-ST Ngày: 08/01/2026 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – CẦN THƠ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy Lam.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lâm Ngọc Hà
Bà Phạm Thị Tuyết Trinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Kim Thị Cẩm Hường – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 78/2025/TLST-HNGĐ ngày 03/10/2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 234/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Thạch Thị P. Địa chỉ: phường S, thành phố Cần Thơ (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Lý Văn H. Địa chỉ: ấp K, xã A, thành phố Cần Thơ (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 04/8/2025, nguyên đơn bà Thạch Thị P trình bày:
Nguyên vào năm 2017, bà Thạch Thị P và ông Lý Văn H quen nhau, có làm lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 24/04/2017 tại UBND xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
Bà Thạch Thị P và ông Lý Văn H chung sống với nhau thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn, nên cuộc sống giữa bà Thạch Thị P và ông Lý Văn H không hạnh phúc. Mục đích hôn nhân không đạt được. Hiện bà Thạch Thị P và ông Lý Văn H đã sống ly thân.
Về con chung: Bà Thạch Thị P và ông Lý Văn H chung sống với nhau được 02 người con chung gồm:
1./ Cháu: Lý Gia K (giới tính Nam), sinh ngày: 23/10/2019
2./ Cháu: Lý Gia K1 (giới tính Nam), sinh ngày: 31/10/2022
Về tài sản chung: Tự thoả thuận với nhau.
Về nợ chung: Không có.
Nay bà Thạch Thị P yêu cầu Toà án giải quyết:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Thạch Thị P yêu cầu được ly hôn với ông Lý Văn H.
Về con chung: Sau khi ly hôn, bà Thạch Thị P yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Lý Gia K1 (giới tính Nam), sinh ngày 31/10/2022 đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) do hiện nay cháu đang sống ổn định cùng bà Thạch Thị P, bà Thạch Thị P không yêu cầu ông Lý Văn H cấp dưỡng nuôi con.
Bà Thạch Thị P đồng ý giao cháu Lý Gia K (giới tính Nam), sinh ngày 23/10/2019 cho ông Lý Văn H trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) do hiện nay cháu đang sống ổn định cùng ông Lý Văn H. Bà Thạch Thị P không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn ông Lý Văn H: Tòa án đã thực hiện tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho ông Lý Văn H, nhưng từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay, ông Lý Văn H vắng mặt, không tham gia tố tụng, không gửi cho Tòa án văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa, kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.
Nguyên đơn đã chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.
Nguyên đơn bà Thạch Thị P có đơn yêu cầu Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Bị đơn ông Lý Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, là chưa chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án, thực hiện chưa đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thạch Thị P đối với bị đơn ông Lý Văn H, giải quyết cho bà Thạch Thị P và ông Lý Văn H ly hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giao cháu Lý Gia K1 (giới tính Nam), sinh ngày 31/10/2022 cho bà Thạch Thị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Lý Gia K1 đủ 18 tuổi. Giao cháu Lý Gia K (giới tính Nam), sinh ngày 23/10/2019 cho ông Lý Văn H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Lý Gia K đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn và bị đơn đều không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung: Bà Thạch Thị P trình bày là để hai bên tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về nợ chung: Bà Thạch Thị P tự trình bày là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Nguyên đơn bà Thạch Thị P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Về quan hệ hôn nhân: Bà yêu cầu được ly hôn với ông Lý Văn H; Về con chung: Bà Thạch Thị P yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Lý Gia K1, sinh ngày 31/10/2022 đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), không yêu cầu ông Lý Văn H cấp dưỡng nuôi con. Bà Thạch Thị P đồng ý giao cháu Lý Gia K, sinh ngày 23/10/2019 cho ông Lý Văn H trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), bà không cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung: Hai bên tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết; Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Toà án nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ thụ lý vụ án xác định quan hệ pháp luật giải quyết “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Nguyên đơn bà Thạch Thị P có đơn yêu cầu Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Đối với bị đơn ông Lý Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Thạch Thị P và ông Lý Văn H tự nguyện kết hôn, được Uỷ ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 64 ngày 24/4/2017 cho nên quan hệ hôn nhân giữa bà Thạch Thị P và ông Lý Văn H là hợp pháp. Bà Thạch Thị P trình bày trong quá trình chung sống, giữa bà và ông Lý Văn H phát sinh nhiều mâu thuẫn dẫn đến cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, hiện nay hai bên đã không còn chung sống với nhau. Cho nên bà Thạch Thị P đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Lý Văn H. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án cho ông Lý Văn H, nhưng trong suốt quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến nay bị đơn ông Lý Văn H không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị P, cũng không đến tham dự phiên họp, phiên tòa theo giấy triệu tập của Toà án. Từ đó cho thấy mâu thuẫn tình cảm vợ chồng giữa hai người là trầm trọng, cuộc sống chung không có cơ sở để tồn tại, dẫn đến mục đích hôn nhân xây dựng gia đình hạnh phúc không thể đạt được. Do vậy, việc bà Thạch Thị P yêu cầu được ly hôn với ông Lý Văn H là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị P và giải quyết cho bà Thạch Thị P được ly hôn với ông Lý Văn H.
Về con chung: Trong quá trình chung sống thì bà Thạch Thị P và ông Lý Văn H có 02 con chung gồm cháu Lý Gia K (giới tính Nam), sinh ngày: 23/10/2019 và cháu Lý Gia K1 (giới tính Nam), sinh ngày: 31/10/2022. Bà Thạch Thị P yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Lý Gia K1 đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Bà Thạch Thị P đồng ý giao cháu Lý Gia K, sinh ngày 23/10/2019 cho ông Lý Văn H trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Xét thấy, hiện nay cháu Lý Gia K1 đang sống chung với bà Thạch Thị P, được bà Thạch Thị P chăm sóc, nuôi dưỡng tốt và ông Lý Văn H cũng không có ý kiến phản đối về việc bà Thạch Thị P yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Lý Gia K1. Đối với cháu Lý Gia K hiện nay đang sống ổn định cùng ông Lý Văn H, bà Thạch Thị P cũng tự nguyện giao cháu Lý Gia K cho ông Lý Văn H trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, ông Lý Văn H cũng không có ý kiến phản đối về việc bà Thạch Thị P giao cháu Lý Gia K cho ông nuôi dưỡng. Do đó, để đảm bảo cuộc sống ổn định cho cháu Lý Gia K1 và cháu Lý Gia K, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, giao cháu Lý Gia K1 cho bà Thạch Thị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi; Giao cháu Lý Gia K cho ông Lý Văn H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Thạch Thị P và ông Lý Văn H đều không phải cấp dưỡng nuôi con do các bên không yêu cầu.
Về tài sản chung: Bà Thạch Thị P trình bày là để hai bên tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Bà Thạch Thị P tự trình bày là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Từ những phân tích nêu trên nhận thấy đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Bà Thạch Thị P phải chịu án phí sơ thẩm trong vụ án ly hôn số tiền 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị P.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Thạch Thị P được ly hôn với ông Lý Văn H.
- Về con chung:
Giao cháu Lý Gia K1 (giới tính Nam), sinh ngày 31/10/2022 cho bà Thạch Thị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Lý Gia K1 đủ 18 tuổi.
Giao cháu Lý Gia K (giới tính Nam), sinh ngày 23/10/2019 cho ông Lý Văn H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Lý Gia K đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Thạch Thị P và ông Lý Văn H đều không phải cấp dưỡng nuôi con do các bên không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định tại Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Bà Thạch Thị P trình bày là để hai bên tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về nợ chung: Bà Thạch Thị P tự trình bày là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Thạch Thị P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm trong vụ án ly hôn nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền số 0003855 ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. Như vậy, bà Thạch Thị P đã nộp xong án phí sơ thẩm. Bị đơn ông Lý Văn H không phải chịu án phí sơ thẩm.
Báo các đương sự biết, án xử sơ thẩm công khai có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết) để xin Tòa án cấp trên xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Cần Thơ; - VKSND Khu vực 6 – Cần Thơ; - Phòng THADS Khu vực 6 – Cần Thơ; - Cơ quan cấp giấy chứng nhận kết hôn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thủy Lam |