vanban.org

Bản án 01/2026/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty C đối với ông Nguyễn Văn T.

Chấm dứt Hợp đồng cầm cố số GRM201201014NA18X được ký kết ngày 25 tháng 12 năm 2020 giữa Công ty C với ông Nguyễn Văn T. Buộc ông Nguyễn Văn T có nghĩa vụ thanh toán Công ty C số tiền 14.722.225 đồng (trong đó tiền vốn là 12.880.337 đồng, lãi trong hạn là 1.841.888 đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Công ty C- Nguyễn Văn T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty C đối với ông Nguyễn Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC A – CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2026/DS-ST
Ngày 07 - 01 - 2026
V/v tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC A - CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Nhi

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Nhạn

Ông Võ Minh Thiện

- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Loan - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực A - Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 01 năm 2026, tại Tòa án nhân dân khu vực A - Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 752/2025/TLST-DS ngày 24 tháng 11 năm 2025 về tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 170/2025/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty C. Địa chỉ trụ sở chính: Số 128, đường Nguyễn Du, phường Trường Vinh, tỉnh Nghệ An.

Người đại diện theo pháp luật: Ông K - Chức vụ: Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Kanokwatpaisal Napat: Ông Đặng Văn B - Chức vụ: Nhân viên Công ty (theo Giấy ủy quyền số: 234/2025/UQ-SVN ngày 01 tháng 02 năm 2025 - vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh ngày 01/01/1986. Địa chỉ: Ấp B, xã A, tỉnh Cà Mau (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 06 tháng 11 năm 2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của Công ty C trình bày:

Ngày 25 tháng 12 năm 2020 giữa Công ty C và ông Nguyễn Văn T có ký Hợp đồng cầm cố số: GRM201201014NA18X. Theo đó ông T cầm cố cho Công ty 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Jupiter, màu đen, biển kiểm soát 94B1-387.22 theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 028458 do Công an huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu (cũ) cấp ngày 19 tháng 12 năm 2018 cho ông T đứng tên chủ sở hữu. Số tiền cầm cố là 16.000.000 đồng, thời hạn cầm cố là 18 tháng, mục đích cầm cố là tiêu dùng cá nhân và kinh doanh (nhưng ông T không có đăng ký kinh doanh).

Lãi suất cầm cố là 1,1%/ số tiền cầm cố/tháng, phí bảo dưỡng, phí quản lý hồ sơ cố định bằng 0,5% số tiền cầm cố/tháng, lãi suất quá hạn bằng 4% số tiền quá hạn thanh toán/tháng, phí mượn xe 3% số tiền cầm cố/tháng, phí phạt vi phạm nghĩa vụ thanh toán 8% giá trị phần nghĩa vụ vi phạm, phí tất toán trước thời hạn 7% nợ gốc chưa thanh toán, chi phí tố tụng là 10% trên dư nợ gốc, lãi, phí quản lý hồ sơ cố định chưa thanh toán.

Do nhu cầu đi lại, phục vụ công việc nên ông T mượn lại xe mô tô theo Giấy mượn xe ngày 25 tháng 12 năm 2020. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo đúng cam kết trong hợp đồng cầm cố, giấy mượn xe làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của Công ty mặc dù Công ty đã nhiều lần nhắc nhở.

Nay Công ty C chỉ yêu ông Nguyễn Văn T trả cho Công ty số tiền nợ gốc 12.880.337 đồng, tiền lãi trong hạn từ thời điểm thực hiện ký hợp đồng cầm cố ngày 25 tháng 12 năm 2020 đến ngày 18 tháng 8 năm 2025 là 1.841.888 đồng và tiền lãi trong giai đoạn thi hành án. Sau khi ông T thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thì Công ty sẽ trả lại cho ông T giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy. Công ty xin được rút lại các yêu cầu khởi kiện còn lại theo đơn khởi kiện đề ngày 06 tháng 11 năm 2025. Yêu cầu rút lại một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty là tự nguyện.

Bị đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:

Tại phiên tòa, ông T thống nhất với lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của Công ty Công ty C. Ông đồng ý chấm dứt hợp đồng cầm cố với Công ty. Ông đồng ý trả cho Công ty số tiền nợ gốc 12.880.337 đồng, tiền lãi trong hạn từ thời điểm thực hiện ký hợp đồng cầm cố ngày 25 tháng 12 năm 2020 đến ngày 18 tháng 8 năm 2025 là 1.841.888 đồng và tiền lãi trong giai đoạn thi hành án. Sau khi ông thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thì Công ty sẽ trả lại cho ông giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Cà Mau Liêu phát biểu:

Về việc tuân theo pháp luật: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty C đối với ông Nguyễn Văn T. Buộc ông T có nghĩa vụ thanh toán Công ty số tiền 14.722.225 đồng (trong đó tiền vốn là 12.880.337 đồng, lãi trong hạn là 1.841.888 đồng) và lãi suất trong giai đoạn thi hành án. Đình chỉ một phần yêu cầu của Công ty C về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn T thanh toán số tiền 41.818.707 đồng (trong đó phí quản lý hồ sơ cố định 6.697.775 đồng, tiền lãi quá hạn 31.948.505 đồng, phí phạt nghĩa vụ thanh toán 1.030.427 đồng, chi phí tố tụng 2.142.000 đồng). Ông T phải chịu án phí có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án; căn cứ vào ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, đương sự; sau khi thảo luận, nghị án; Hội đồng xét xử nhận thấy:

Thẩm quyền giải quyết: Công ty C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn T thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng cầm cố đã ký kết. Ông T có địa chỉ tại ấp Ba Mến A, xã An Trạch, tỉnh Cà Mau. Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực A - Cà Mau.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Đặng Văn Bình có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ngày 25 tháng 12 năm 2020 giữa Công ty C và ông Nguyễn Văn T có ký Hợp đồng cầm cố số: GRM201201014NA18X. Theo đó ông T cầm cố cho Công ty 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Jupiter, màu đen, biển kiểm soát 94B1-387.22 theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 028458 do Công an huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu (cũ) cấp ngày 19 tháng 12 năm 2018 cho ông T đứng tên chủ sở hữu. Số tiền cầm cố là 16.000.000 đồng, thời hạn cầm cố là 18 tháng, mục đích cầm cố là tiêu dùng cá nhân và kinh doanh (nhưng ông T không có đăng ký kinh doanh).

Lãi suất cầm cố là 1,1%/ số tiền cầm cố/tháng, phí bảo dưỡng, phí quản lý hồ sơ cố định bằng 0,5% số tiền cầm cố/tháng, lãi suất quá hạn bằng 4% số tiền quá hạn thanh toán/tháng, phí mượn xe 3% số tiền cầm cố/tháng, phí phạt vi phạm nghĩa vụ thanh toán 8% giá trị phần nghĩa vụ vi phạm, phí tất toán trước thời hạn 7% nợ gốc chưa thanh toán, chi phí tố tụng là 10% trên dư nợ gốc, lãi, phí quản lý hồ sơ cố định chưa thanh toán.

Do nhu cầu đi lại, phục vụ công việc nên ông T mượn lại xe mô tô theo Giấy mượn xe ngày 25 tháng 12 năm 2020. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo đúng cam kết trong hợp đồng cầm cố, giấy mượn xe làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của Công ty mặc dù Công ty đã nhiều lần nhắc nhở.

Nay Công ty C chỉ yêu ông Nguyễn Văn T trả cho Công ty số tiền nợ gốc 12.880.337 đồng, tiền lãi trong hạn từ thời điểm thực hiện ký hợp đồng cầm cố ngày 25 tháng 12 năm 2020 đến ngày 18 tháng 8 năm 2025 là 1.841.888 đồng và tiền lãi trong giai đoạn thi hành án. Sau khi ông T thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thì Công ty sẽ trả lại cho ông T giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy. Công ty xin được rút lại các yêu cầu khởi kiện còn lại theo đơn khởi kiện đề ngày 06 tháng 11 năm 2025. Yêu cầu rút lại một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty là tự nguyện.

Xét thấy, Hợp đồng cầm cố được ký kết đúng theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa, ông T thừa nhận đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ và đồng ý trả nợ theo yêu cầu của Công ty. Do đó, việc Công ty khởi kiện yêu cầu ông T trả nợ vốn, lãi trong hạn, lãi phát sinh trong giai đoạn thi hành án cho Công ty là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Buộc ông T có nghĩa vụ thanh toán Công ty số tiền 14.722.225 đồng (trong đó tiền vốn là 12.880.337 đồng, lãi trong hạn là 1.841.888 đồng) và lãi suất trong giai đoạn thi hành án.

Đình chỉ một phần yêu cầu của Công ty C về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn T thanh toán số tiền 41.818.707 đồng (trong đó phí quản lý hồ sơ cố định 6.697.775 đồng, tiền lãi quá hạn 31.948.505 đồng, phí phạt nghĩa vụ thanh toán 1.030.427 đồng, chi phí tố tụng 2.142.000 đồng).

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Cà Mau là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 14.722.225 đồng x 5% = 736.111 đồng, buộc ông T phải chịu. Công ty C không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 228, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 309, 311, 313 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty C đối với ông Nguyễn Văn T.

2. Chấm dứt Hợp đồng cầm cố số GRM201201014NA18X được ký kết ngày 25 tháng 12 năm 2020 giữa Công ty C với ông Nguyễn Văn T.

3. Buộc ông Nguyễn Văn T có nghĩa vụ thanh toán Công ty C số tiền 14.722.225 đồng (trong đó tiền vốn là 12.880.337 đồng, lãi trong hạn là 1.841.888 đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền trên đây, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

4. Buộc Công ty C có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Nguyễn Văn T giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 028458 do Công an huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu (cũ) cấp ngày 19 tháng 12 năm 2018 cho ông Nguyễn Văn T đứng tên sở hữu.

5. Đình chỉ một phần yêu cầu của Công ty C về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn T thanh toán số tiền 41.818.707 đồng (trong đó phí quản lý hồ sơ cố định 6.697.775 đồng, tiền lãi quá hạn 31.948.505 đồng, phí phạt nghĩa vụ thanh toán 1.030.427 đồng, chi phí tố tụng 2.142.000 đồng).

6. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 736.111 đồng, buộc ông Nguyễn Văn T phải chịu. Công ty C không phải chịu án phí. Công ty Sawad Tiền Có Ngay đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 1.400.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005152 ngày 24 tháng 11 năm 2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được hoàn lại toàn bộ.

7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

8. Án xử công khai, đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhận:

Cỡ chữ