vanban.org

Bản án 01/2025/KDTM-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Có áp dụng án lệ Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đối với bà Nguyễn Thị T1 và ông Lê Văn T2 về việc tranh chấp về hợp đồng tín dụng.

Buộc bà Nguyễn Thị T1 và ông Lê Văn T2 cùng phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng số tiền tính đến ngày 14 tháng 01 năm 2025 là 3.594.139.865 đồng (ba tỷ năm trăm chín mươi bốn triệu một trăm ba mươi chín nghìn tám trăm sáu mươi lăm đồng), trong đó: nợ gốc: 3.374.518.398 đồng (ba tỷ ba tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Tranh chấp về hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn Ngân hàng S và bị đơn bà Nguyễn Thị T1 và ông Lê Văn T2"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đối với bà Nguyễn Thị T1 và ông Lê Văn T2 về việc tranh chấp về hợp đồng tín dụng.
  • Căn cứ chính? Điều 10 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP Quy định thi hành Bộ luật Dân sự…; Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 119 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÀU BÀNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2025/KDTM-ST
Ngày: 14-01-2025
V/v tranh chấp về hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Xuyến.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Thanh Hồng;

Ông Huỳnh Thanh Hưng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Quế Trâm, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 459/2024/TLST-DS ngày 30 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp về hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 125/2024/QĐST-DS ngày 24 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S; địa chỉ: số B, đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Vũ Bích T, sinh năm 1978; cư trú tại: ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; chức vụ: Phó Phòng G - S1, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 16 tháng 5 năm 2024), có mặt.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1991 và ông Lê Văn T2, sinh năm 1989; cùng địa chỉ: khu phố B, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương, cùng vắng mặt (bà T1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện ngày 19 tháng 8 năm 2024 của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (viết tắt là Ngân hàng S2), quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà Nguyễn Vũ Bích T là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Theo Hợp đồng tín dụng số 202226910087 ngày 13 tháng 12 năm 2022, các Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số 202226910087-01 ngày 16 tháng 6 năm 2023, số 202226910087-02 ngày 04 tháng 12 năm 2023 và số 202226910087-03 ngày 02 tháng 4 năm 2024 được ký giữa vợ chồng bà Nguyễn Thị T1 và ông Lê Văn T2 với Ngân hàng S2: Ngân hàng S2 cấp tín dụng cho bà T1 và ông T2 số tiền 3.000.000.000 đồng để bổ sung vốn mua cây củi, gỗ, thời hạn vay 12 tháng trả vốn cuối kỳ; lãi suất tại thời điểm bắt đầu 9,5%/năm kể từ ngày ký Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số 202226910087-03, lãi suất của toàn bộ dư nợ vay sẽ được áp dụng theo mức lãi suất cơ sở + 1,8% biên độ và được Ngân hàng S2 quyết định điều chỉnh theo định kỳ 03 tháng/lần và phù hợp với quy định của Ngân hàng N về lãi suất cho vay; lãi suất điều chỉnh trong từng thời kỳ được hiểu là không bắt buộc. Theo Giấy nhận nợ số LD2336200509 ngày 27 tháng 12 năm 2023, bà T1 và ông T2 đã nhận số tiền vay 3.000.000.000 đồng, ngày vay là ngày 28 tháng 12 năm 2023, ngày đáo hạn là ngày 28 tháng 12 năm 2024.

Theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 422/2022 ngày 15 tháng 12 năm 2022, công chứng tại Văn phòng C, số công chứng: 14235, quyển số: 02/2022 TP/CC-SCC/HĐGD giữa bà T1 và ông T2 với Ngân hàng S2, tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, cụ thể:

- Thửa đất 185, tờ bản đồ 14, diện tích 1.000,8 m² (CLN), tọa lạc xã C, huyện B, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số vào sổ CS04902 ngày 27 tháng 10 năm 2021 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông T2.

- Thửa đất 187, tờ bản đồ 14, diện tích 1.000,8 m² (CLN), tọa lạc xã C, huyện B, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số vào sổ CS04904 ngày 27 tháng 10 năm 2021 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông T2.

- Thửa đất 188, tờ bản đồ 14, diện tích 1.000,8 m² (CLN), tọa lạc xã C, huyện B, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số vào sổ CS04905 ngày 27 tháng 10 năm 2021 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông T2.

- Thửa đất 230, tờ bản đồ 14, diện tích 1.100,1 m² (CLN), tọa lạc xã C, huyện B, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số vào sổ CS04927 ngày 29 tháng 10 năm 2021 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho bà T1.

Ngày 30 tháng 6 năm 2023, bà T1 ký với Ngân hàng S2 Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân và Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng S2. Căn cứ thu nhập của bà T1, Ngân hàng S2 đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức tín dụng là 50.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà T1 đã thực hiện các giao dịch và các khoản phải thanh toán với tổng số tiền là 44.300.000 đồng (thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng S2).

Ngày 26 tháng 7 năm 2023, ông T2 ký với Ngân hàng S2 Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân và Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng S2. Căn cứ thu nhập của ông T2, Ngân hàng S2 đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức tín dụng là 50.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Đến ngày 26 tháng 3 năm 2024, sau khi xem xét khả năng tài chính của ông T2, Ngân hàng S2 đã đồng ý nâng hạn mức thẻ tín dụng của ông T2 lên 300.000.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, ông T2 đã thực hiện các giao dịch, các khoản phải thanh toán và vay tiêu dùng từ thẻ với tổng số tiền là 295.100.000 đồng (thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng S2).

Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ngày 20 tháng 7 năm 2024, bà T1 và ông T2 vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Qua nhiều lần nhắc nhở, bà T1 và ông T2 vẫn không có thiện chí trả nợ nên Ngân hàng S2 đã chuyển toàn bộ số nợ vay của bà T1 và ông T2 còn thiếu sang nợ quá hạn.

Theo Đơn khởi kiện ngày 19 tháng 8 năm 2024, Ngân hàng S2 yêu cầu:

- Buộc bà T1 và ông T2 phải trả ngay cho Ngân hàng S2 tổng số tiền tính đến ngày 19 tháng 8 năm 2024 là 3.382.684.731 đồng, trong đó: nợ gốc: 3.359.067.541 đồng (bao gồm nợ vay và dư nợ thẻ tín dụng); lãi trong hạn: 23.424.658 đồng; lãi phạt quá hạn: 192.532 đồng và lãi phát sinh cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng và các phụ lục hợp đồng tín dụng (nếu có), Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân.

- Trong trường hợp bà T1 và ông T2 không trả được nợ, cho phát mãi ngay toàn bộ tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký kết.

Tại phiên tòa, Ngân hàng S2 yêu cầu:

- Buộc bà T1 và ông T2 cùng phải trả cho Ngân hàng S2 tổng số tiền tính đến ngày 14 tháng 01 năm 2025 là 3.594.139.865 đồng, trong đó: nợ gốc: 3.374.518.398 đồng; lãi trong hạn: 211.628.794 đồng; lãi quá hạn: 3.992.673 đồng và lãi phát sinh tính từ ngày 15 tháng 01 năm 2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại các hợp đồng tín dụng.

- Trong trường hợp bà T1 và ông T2 không trả được nợ, cho phát mãi ngay toàn bộ tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký kết.

Tại Bản tự khai ngày 06 tháng 11 năm 2024, bị đơn ông Lê Văn T2 trình bày: ông T2 có thế chấp 04 thửa đất cho Ngân hàng S2 để vay tổng số tiền là 3.359.067.541 đồng. Do tình hình kinh tế khó khăn nên ông T2 không có khả năng chi trả gốc và lãi, ông T2 đồng ý cho Ngân hàng S2 phát mãi tài sản thế chấp để trả nợ.

Tại Bản tự khai ngày 19 tháng 11 năm 2024, bị đơn bà Nguyễn Thị T1 trình bày: bà T1 có vay tiền của Ngân hàng S2 và còn nợ lại tổng số tiền gốc và lãi là 3.382.648.731 đồng. Bà T1 đồng ý trả nợ theo yêu cầu của Ngân hàng S2, đồng ý dùng tài sản bảo đảm đã thế chấp để trả nợ.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và về việc giải quyết vụ án: quá trình giải quyết vụ án, việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phân tích, đánh giá và nhận định:

Về thủ tục thụ lý việc khởi kiện của nguyên đơn đã thực hiện đúng theo các quy định về khởi kiện và thụ lý vụ án của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật: các bên phát sinh tranh chấp từ hợp đồng tín dụng đã ký kết, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là tranh chấp về hợp đồng tín dụng.

Về thẩm quyền:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự, những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là “tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận”. Trong vụ án này, nguyên đơn là tổ chức có đăng ký kinh doanh với hình thức Công ty cổ phần (bút lục số 110), bị đơn là cá nhân có đăng ký kinh doanh với hình thức hộ kinh doanh (bút lục số 46), bị đơn vay vốn với mục đích bổ sung vốn kinh doanh mua bán củi, gỗ nên cả hai giao kết hợp đồng tín dụng đều có mục đích lợi nhuận. Vì vậy, tranh chấp về hợp đồng tín dụng giữa các đương sự là một loại tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn có nơi cư trú tại khu phố B, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tuy nhiên, sau khi thụ lý vụ án mới phát hiện được vụ án thuộc tranh chấp về kinh doanh, thương mại, không phải tranh chấp về dân sự. Vì vậy, Tòa án vẫn tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung, nhưng ghi số, ký hiệu và trích yếu trong bản án theo đúng hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Bị đơn bà T1 vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án. Bị đơn ông T2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T2.

Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Việc vay tiền giữa Ngân hàng S2 với bà T1 và ông T2 theo Hợp đồng tín dụng số 202226910087 ngày 13 tháng 12 năm 2022, các Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số 202226910087-01 ngày 16 tháng 6 năm 2023, số 202226910087-02 ngày 04 tháng 12 năm 2023 và số 202226910087-03 ngày 02 tháng 4 năm 2024, Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân ngày 30 tháng 6 năm 2023 và ngày 26 tháng 7 năm 2023 do Ngân hàng S2 cung cấp cho Tòa án được bà T1 và ông T2 thừa nhận. Hội đồng xét xử xác định việc vay tiền giữa các bên là có thật, là tình tiết không phải chứng minh theo khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Các Hợp đồng tín dụng, Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân nêu trên có nội dung thỏa thuận phù hợp với Điều 385 và Điều 463 của Bộ luật Dân sự, Điều 90, Điều 91 và điểm a khoản 3 Điều 98 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017, phù hợp với các quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà T1 và ông T2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng S2 theo hợp đồng tín dụng, vi phạm Điều 466 của Bộ luật Dân sự. Tại phiên tòa, Ngân hàng S2 yêu cầu bà T1 và ông T2 phải trả cho Ngân hàng S2 tổng số tiền tính đến ngày 14 tháng 01 năm 2025 là 3.594.139.865 đồng, trong đó: nợ gốc: 3.374.518.398 đồng; lãi trong hạn: 211.628.794 đồng và lãi quá hạn: 3.992.673 đồng. Xét yêu cầu này của Ngân hàng S2 là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc bà T1 và ông T2 cùng phải trả cho Ngân hàng S2 tổng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 14 tháng 01 năm 2025 là 3.594.139.865 đồng.

Ngân hàng S2 yêu cầu bà T1 và ông T2 phải cùng trả cho Ngân hàng S2 tiền lãi phát sinh theo các hợp đồng tín dụng tính từ ngày 15 tháng 01 năm 2025 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ:

Theo Án lệ số 08/2016/AL về xác định lãi suất, việc điều chỉnh lãi suất trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA17 tháng 10 năm 2016 về việc công bố án lệ của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao: “Đối với các khoản tiền vay của tổ chức Ngân hàng, tín dụng, ngoài khoản tiền nợ gốc, lãi vay trong hạn, lãi vay quá hạn, phí mà khách hàng vay phải thanh toán cho bên cho vay theo hợp đồng tín dụng tính đến ngày xét xử sơ thẩm, thì kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay”.

Xét thấy, tính chất, các tình tiết, sự kiện pháp lý trong vụ án này tương tự như các tình tiết, sự kiện pháp lý trong án lệ. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Án lệ số 08/2016/AL để xác định nghĩa vụ chậm thi hành án đối với bà T1 và ông T2 theo yêu cầu của Ngân hàng S2, buộc bà T1 và ông T2 cùng phải trả cho Ngân hàng S2 tiền lãi phát sinh theo các hợp đồng tín dụng tính từ ngày 15 tháng 01 năm 2025 cho đến khi trả hết nợ.

Về Hợp đồng thế chấp tài sản số 422/2022 ngày 15 tháng 12 năm 2022 và xử lý tài sản thế chấp:

Theo Điều 2 của Hợp đồng thế chấp tài sản số 422/2022, bà T1 và ông T2 đã thế chấp cho Ngân hàng S2 04 thửa đất và tài sản gắn liền với đất tọa lạc xã C1, huyện B, tỉnh Bình Dương để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo quy định tại khoản 2 Điều 292, Điều 317 và Điều 318 của Bộ luật Dân sự, cụ thể:

- Thửa đất 185, 187 và 188, tờ bản đồ 14, mỗi thửa đất có diện tích 1.000,8 m² (CLN) theo các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông T2.

- Thửa đất 230, tờ bản đồ 14, diện tích 1.100,1 m² (CLN) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà T1.

Việc thế chấp quyền sử dụng đất được công chứng, được đăng ký thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm đúng theo quy định tại Điều 117, khoản 2 Điều 119 và Điều 319 của Bộ luật Dân sự, Điều 9, Điều 10 và Điều 22 của Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19 tháng 3 năm 2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, điểm a khoản 1 Điều 4, Điều 5, Điều 6, Điều 8 và khoản 3 Điều 9 của Nghị định số 102/2017/NĐ-CPngày 01 tháng 9 năm 2017 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm.

Theo Biên bản về việc xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 15 tháng 11 năm 2024 do Tòa án thực hiện đối với các thửa đất 185, 187, 188 và 230 cùng tài sản gắn liền với đất thể hiện, hiện trạng và việc quản lý, sử dụng đối với tài sản thế chấp không thay đổi so với thời điểm thế chấp và không có tranh chấp; hiện trạng đất trống.

Theo quy định tại Điều 6 của Hợp đồng thế chấp tài sản số 422/2022, khoản 1 Điều 299 và khoản 7 Điều 323 của Bộ luật Dân sự, khoản 2 Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 49 của Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19 tháng 3 năm 2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, nếu bà T1 và ông T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng S2 được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, xử lý tài sản thế chấp để thanh toán dứt nợ.

Xét ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng và về việc giải quyết vụ án là phù hợp.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S2.

Về án phí và chi phí tố tụng khác:

Về án phí:

Ngân hàng S2 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Bà T1 và ông T2 cùng phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về chi phí tố tụng khác: tổng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng, đã được Ngân hàng S2 tạm ứng tại Tòa. Bà T1 và ông T2 cùng phải chịu 3.000.000 đồng để trả lại cho Ngân hàng S2 theo quy định tại khoản 1 Điều 157 và khoản 2 Điều 158 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 2 Điều 158, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117, khoản 2 Điều 119, khoản 2 Điều 292, khoản 1 Điều 299, Điều 317, Điều 318, Điều 319, khoản 7 Điều 323, Điều 385, Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự; Điều 90, Điều 91, khoản 2 Điều 95 và điểm a khoản 3 Điều 98 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; điểm a khoản 1 Điều 4, Điều 5, Điều 6, Điều 8 và khoản 3 Điều 9 của Nghị định số 102/2017/NĐ-CP01 tháng 9 năm 2017 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm; Điều 9, Điều 10, Điều 22 và Điều 49 của Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19 tháng 3 năm 2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và Án lệ số 08/2016/AL về xác định lãi suất, việc điều chỉnh lãi suất trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA17 tháng 10 năm 2016 về việc công bố án lệ của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đối với bà Nguyễn Thị T1 và ông Lê Văn T2 về việc tranh chấp về hợp đồng tín dụng.

Buộc bà Nguyễn Thị T1 và ông Lê Văn T2 cùng phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng số tiền tính đến ngày 14 tháng 01 năm 2025 là 3.594.139.865 đồng (ba tỷ năm trăm chín mươi bốn triệu một trăm ba mươi chín nghìn tám trăm sáu mươi lăm đồng), trong đó: nợ gốc: 3.374.518.398 đồng (ba tỷ ba trăm bảy mươi bốn triệu năm trăm mười tám nghìn ba trăm chín mươi tám đồng); lãi trong hạn: 211.628.794 đồng (hai trăm mười một triệu sáu trăm hai mươi tám nghìn bảy trăm chín mươi bốn đồng); lãi quá hạn: 3.992.673 đồng (ba triệu chín trăm chín mươi hai nghìn sáu trăm bảy mươi ba đồng).

Kể từ ngày 15 tháng 01 năm 2025, bà Nguyễn Thị T1 và ông Lê Văn T2 còn cùng phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S thì lãi suất mà ông bà Nguyễn Thị T1 và ông Lê Văn T2 cùng phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

Trường hợp bà Nguyễn Thị T1 và ông Lê Văn T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 422/2022 ngày 15 tháng 12 năm 2022, công chứng tại Văn phòng C, khu phố B, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương, số công chứng: 14235, quyển số: 02/2022 TP/CC-SCC/HĐGD để thanh toán dứt nợ đối với các quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, cụ thể:

- Thửa đất 185, tờ bản đồ 14, diện tích 1.000,8 m² (CLN), tọa lạc xã C, huyện B, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số vào sổ CS04902 ngày 27 tháng 10 năm 2021 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông Lê Văn T2.

- Thửa đất 187, tờ bản đồ 14, diện tích 1.000,8 m² (CLN), tọa lạc xã C, huyện B, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số vào sổ CS04904 ngày 27 tháng 10 năm 2021 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông Lê Văn T2.

- Thửa đất 188, tờ bản đồ 14, diện tích 1.000,8 m² (CLN), tọa lạc xã C, huyện B, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số vào sổ CS04905 ngày 27 tháng 10 năm 2021 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông Lê Văn T2.

- Thửa đất 230, tờ bản đồ 14, diện tích 1.100,1 m² (CLN), tọa lạc xã C, huyện B, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số vào sổ CS04927 ngày 29 tháng 10 năm 2021 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho bà Nguyễn Thị T1.

2. Về án phí và chi phí tố tụng khác:

Về án phí:

- Ngân hàng Thương mại Cổ phần S được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 49.826.847 đồng (bốn mươi chín triệu tám trăm hai mươi sáu nghìn tám trăm bốn mươi bảy đồng) theo biên lai thu tiền số 0003803 ngày 23 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.

- Bà Nguyễn Thị T1 và ông Lê Văn T2 cùng phải chịu 103.882.797 đồng (một trăm lẻ ba triệu tám trăm tám mươi hai nghìn bảy trăm chín mươi bảy đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Về chi phí tố tụng khác: bà Nguyễn Thị T1 và ông Lê Văn T2 cùng phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) để trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.

4. Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ