vanban.org

Bản án 01/2025/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

[2]. Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm c khoản 1 Điều 4 Điều khoản chuyển tiếp - Luật số 86/2025/QH15 (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự): Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - ĐIỆN BIÊN
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2025/HSST
Ngày: 23-07-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Bùi Thanh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Bạc Thị Hồng;

2. Bà Bạc Thị Thanh Thùy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Sùng A Tình - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3

- Điện Biên, tỉnh Điện Biên;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Lường Phương Thảo - Kiểm sát viên;

Ngày 23 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên; Tòa án nhân dân khu vực 3- Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 82/2025/TLST - HS, ngày 24 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn C - Tên gọi khác: Không có tên gọi khác; Giới tính: Nam. Sinh ngày 04 tháng 4 năm 1990 tại huyện TG, tỉnh Điện Biên. Nơi cư trú: Bản D, xã CS, huyện TG, tỉnh Điện Biên (Nay là bản D, xã CS, tỉnh Điện Biên); Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Chức vụ: Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ học vấn: 6/12; Con ông Lò Văn Ch, sinh năm 1970 và bà Lò Thị P, sinh năm 1973; Bị cáo chưa có vợ con; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị xét xử, chưa bị xử phạt hành chính lần nào.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/4/2025 đến ngày 03/5/2025, bị tạm giam từ ngày 03/5/2025 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lê Thị Thúy An - Là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên. Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 25 phút, ngày 26/4/2025, tổ công tác Công an xã Chiềng Sinh, tỉnh Điện Biên đang làm nhiệm vụ tại bản D, xã CS, huyện TG, tỉnh Điện Biên (Nay là bản D, xã CS, tỉnh Điện Biên) phát hiện một đối tượng đang đi bộ trên đoạn đường thuộc bản D, xã CS có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác tiến hành giữ đối tượng để kiểm tra. Đối tượng khai tên Lò Văn C, quá trình kiểm tra tổ công tác phát hiện trong túi quần màu đen, bên trái đang mặc trên người C có 02 (hai) gói nilon trong đó có 01 (một) gói nilon màu xanh và 01 (một) gói nilon màu hồng đều chứa chất màu trắng dạng cục và dạng bột, nghi ma túy. Qua đấu tranh Lò Văn C khai nhận với tổ công tác đây là 02 gói Heroine của C đang cất giấu với mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác mời người chứng kiến, chính quyền địa phương đến tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng của C theo quy định.

Trong quá trình điều tra bị cáo Lò Văn C khai nhận đây là ma túy, loại Heroine đều là của C mua về với mục đích sử dụng cho bản thân. Nguồn gốc của số ma túy trên C mua của một người đàn ông tên Thủy (không biết tuổi, địa chỉ) với giá 200.000 đồng tại khu vực bản D, xã CS, huyện TG, tỉnh Điện Biên. C thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố.

Tại Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định ngày 27/4/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên xác định: Chất bột màu trắng dạng cục và dạng bột, nghi là Heroine thu giữ của Lò Văn C có khối lượng 0,15 gam, trích toàn bộ gửi giám định.

Tại Bản kết luận giám định số 372/KL-KTHS ngày 30/4/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận:

Vật chứng gửi giám định ký hiệu M1, M2 thu giữ khi bắt quả tang Lò Văn C có tổng khối lượng 0,15 gam là chất ma túy: Loại Heroine.

Hoàn lại khối lượng giám định có biên bản đóng gói, niêm yết và giao nhận lại đối tượng giám định kèm theo.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về kết luận giám định của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên nêu trên.

Bản Cáo trạng số 44/CT-VKSTG ngày 24/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo (Nay là Viện kiểm sát khu vực 3 - Điện Biên) truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Tuần Giáo (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 - Điện Biên), để xét xử bị cáo Lò Văn C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Lò Văn C từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định 0,08 gam; 01 mảnh nilon màu hồng, 01 mảnh nilon màu xanh và 01 phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng.

Ngoài ra: Đề nghị miễn án phí HSST theo quy định của pháp luật đối với bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo cũng như tình tiết giảm nhẹ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về điều kiện hoàn cảnh của bị cáo, quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thành khẩn khai báo, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất trong đề nghị của Viện kiểm sát, không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng truy tố là đúng, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

. Về hành vi bị phạm tội của bị cáo:

Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Vào hồi 20 giờ 25 phút, ngày 26/4/2025 tại đoạn đường thuộc khu vực bản D, xã CS, huyện TG, tỉnh Điện Biên (nay là bản D, xã CS, tỉnh Điện Biên), Lò Văn C đã có hành vi cất giấu trái phép 0,15 gam Heroine. Bị cáo C thừa nhận toàn bộ số ma túy trên là của bị cáo, mua về với mục đích sử dụng cho bản thân. Nguồn gốc của số ma túy trên bị cáo mua của người đàn ông tên Thủy (không rõ tuổi, địa chỉ) với giá 200.000đồng tại khu vực bản D, xã CS, huyện TG, tỉnh Điện Biên (nay là bản D, xã CS, tỉnh Điện Biên).

Khối lượng vật chứng thu giữ của Lò Văn C là 0,15 gam Heroine. Hành vi và khối lượng ma túy nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định: "Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 4 - Điều khoản chuyển tiếp Luật số 86/2025/QH15 (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự), Hội đồng xét xử áp dụng quy định có lợi cho bị cáo là khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xét xử và quyết định mức hình phạt đối với bị cáo.

Lò Văn C là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp, thuộc trường hợp nghiêm trọng, nguyên nhân xuất phát từ động cơ, mục đích tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra. Vì vậy, khẳng định là: Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Điện Biên) truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.

. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự "thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải" theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát: Áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo chưa bị xét xử, chưa bị xử lý hành chính lần nào.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác.

Xét tính chất và mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Điện Biên), tỉnh Điện Biên là phù hợp với quy định của pháp luật. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội, để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có thể giúp bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

. Về hình phạt bổ sung:

Căn cứ vào khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự về hình phạt bổ sung là phạt tiền. Qua tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ; Biên bản xác minh cũng thể hiện bị cáo không có tài sản riêng, nên không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền. Vì vậy, HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt này đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án:

Đối với 0,08 gam Heroine được hoàn lại sau giám định; 01 mảnh nilon màu hồng, 01 mảnh nilon màu xanh và 01 phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng là vật cấm lưu hành và những vật dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

. Các vấn đề khác:

Bị cáo khai nguồn gốc số ma túy trên mua của một người đàn ông tên Thủy nhưng không biết tuổi, địa chỉ của người đó ở đâu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để điều tra, làm rõ xử lý theo quy định. Viện kiểm sát không truy tố, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Điện Biên, Điều tra viên; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Điện Biên), tỉnh Điện Biên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về án phí:

Lò Văn C gia đình thuộc hộ nghèo. Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của người bào chữa và Đại diện viện kiểm sát: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017):

[1]. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

[2]. Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm c khoản 1 Điều 4

- Điều khoản chuyển tiếp - Luật số 86/2025/QH15 (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự):

Xử phạt bị cáo: Lò Văn C 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (27/4/2025).

[3]. Vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 0,08 gam Heroine hoàn lại sau giám định (ký hiệu M1: 0,01 gam Heroine, M2: 0,07 gam Heroine); 01 mảnh nilon màu hồng, 01 mảnh nilon màu xanh và 01 phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/6/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên).

[4]. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ án phí hình sự cho bị cáo.

[5]. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (23/7/2025)./.

Cỡ chữ