- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn H phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Phạt bị cáo Hoàng Văn H 5.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2025/HSST Ngày 20 - 01 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đỗ Thị Thanh Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Vũ Thị Thúy Bình
2. Bà Tưởng Thị Tuyết
Thư ký phiên toà: Bà Vũ Minh Phương – Thư ký Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trung Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai.
Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/QĐXXST-QĐ ngày 10 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Hoàng Văn H, tên gọi khác: Không; sinh ngày 13 tháng 08 năm 1967 tại huyện B, tỉnh Lào Cai. ĐKNKTT: thôn 1, xã N, huyện B, tỉnh Lào Cai; Nơi ở: thôn Sơn Hà, xã N, huyện B, tỉnh Lào Cai Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 6/10; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn Vinh (đã chết) và bà Nguyễn Thị Nhường. Bị cáo có vợ là Kim Thị Vi, bị cáo có 02 con lớn nhất sinh năm 1990 nhỏ sinh năm 1993. Tiền án: Không; tiền sự: không. Nhân thân: bị cáo là đối tượng nghiện ma túy. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 25/10/2024 đến ngày 31/10/2024, tạm giam từ ngày 31/10/2024. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Lào Cai “Có mặt tại phiên tòa”.
- Người chứng kiến: Ông Chảo Láo L – sinh năm 1981 Địa chỉ: thôn Sơn Hà, xã N, huyện B, tỉnh Lào Cai (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 45 phút ngày 25/10/2024, tổ công tác thuộc Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh Lào Cai phối hợp với Công an huyện B làm nhiệm vụ tại tỉnh lộ 158 thuộc Km 0, xã N, huyện B, tỉnh Lào Cai phát hiện và bắt quả tang Bùi Văn Hà có hành vi tàng trữ trái phép 02 gói ma tuý. Nguồn gốc số ma tuý, Bùi Văn Hà khai nhận mua của Hoàng Văn H, trú tại thôn Sơn Hà, xã N, huyện B, tỉnh Lào Cai với giá 400.000 đồng trước đó với mục đích sử dụng cho bản thân. Căn cứ lời khai của Bùi Văn Hà, hồi 12 giờ 20 phút ngày 25/10/2024, tổ công tác thuộc phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh Lào Cai, thi hành lệnh khám xét khẩn cấp người và chỗ ở của Hoàng Văn H. Quá trình khám xét, tổ công tác phát hiện, thu giữ 01 lọ nhựa có nắp đậy bên trong chứa chất lỏng màu hồng, 01 lọ nhựa có nắp đậy bên trong có bám dính dung dịch màu hồng, cất giấu bên trong túi áo treo cuối giường ngủ, Hoàng Văn H khai nhận là Methadone, 01 gói nilon bên trong chứa chất nhựa dẻo màu đen ở dưới chiếu, cuối giường ngủ, 01 gói nilon màu đen bên trong lớp giấy trắng chứa chất bột khô, màu trắng vón cục ở giỏ chiếc xe mô tô biển kiểm soát 24P6 – 9683 để ở trong sân, trước cửa nhà. Hoàng Văn H khai nhận chất nhựa dẻo màu đen là thuốc phiện mua về mục đích chăn nuôi, gói nilon chứa chất bột khô màu trắng vón cục là ma tuý Heroine để sử dụng cho bản thân.
Về nguồn gốc ma túy Hoàng Văn H khai nhận: Khoảng tháng 4, tháng 5 năm 2024, Hoàng Văn H đi gặp và mua của người phụ nữ không quen biết 03 (Ba) gói ma tuý Heroine với giá 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) và 01 (Một) gói thuốc phiện với giá 800.000 đồng. Mua được ma tuý Hoàng Văn H đi về nhà cất giấu để sử dụng, Hoàng Văn H đã sử dụng hết 02 (hai) gói ma túy heroine. Đến 12 giờ 20 phút, ngày 25/10/2024 thì bị tổ công tác Công an tỉnh Lào Cai khám xét, bắt giữ cùng tang vật.
Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu, tái niêm phong và giao nhận đối tượng giám định giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B và Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai ngày 25/10/2024 đã xác định được số vật chứng thu giữ của Hoàng Văn H gồm:
- 01 lọ nhựa có nắp đậy bên trong chứa chất lỏng màu hồng có thể tích 27,5 ml ký hiệu mẫu M1, trích 7,5ml còn lại 20ml hoàn lại cơ quan trưng cầu.
- 01 lọ nhựa có nắp đậy bên trong có bám dính chất lỏng màu hồng, không xác định được thể tích của chất lỏng bám dính trong lọ nhựa dùng 10ml nước cất tráng đều trong lọ nhựa ký hiệu mẫu M2.
- 01 gói nilon, bên trong chứa chất nhựa dẻo màu đen có khối lượng 3,669 gam ký hiệu mẫu M3, trích 0,966 gam còn lại 2,703 gam hoàn lại cơ quan trưng cầu.
- 01 gói nilon màu đen, bên trong chứa 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ chứa chất bột khô màu trắng, vón cục có khối lượng là 0,135 gam mẫu M4, trích 0,043 gam còn lại 0,092 gam hoàn lại cơ quan trưng cầu.
Tại kết luận giám định số 486/KL-GĐMT ngày 30/10/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận số vật chứng thu giữ của Hoàng Văn H gồm:
Mẫu M1: Chất lỏng màu hồng gửi giám định có chất ma túy, loại Methadone thể tích là 27,5 ml.
Mẫu M2: Tìm thấy chất ma túy loại Methadone trong chất lỏng màu hồng bám dính bên trong lọ nhựa gửi giám định, không xác định được thể tích của chất lỏng màu hồng bám dính bên trong lọ nhựa gửi giám định.
Mẫu M3: 3,669 gam chất nhựa dẻo màu đen gửi giám định là nhựa Thuốc phiện.
Mẫu M4: 0,135 gam chất bột khô màu trắng, gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine.
Ngày 25/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B quyết định trưng cầu giám định bổ sung Viện khoa học hình sự Bộ Công an đối với nồng độ chất ma tuý trong 20ml Methadone mẫu M1 còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ của Hoàng Văn H.
Tại bản kết luận giám định số 9164/KL – KTHS ngày 04/12/2024 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: Nồng độ, khối lượng chất ma tuý Methadone có trong 20ml chất lỏng ký hiệu M1 gửi giám định lần lượt là 11,38mg/ml và 0,227 gam. Nồng độ, khối lượng chất ma tuý Methadone có trong 27,5ml mẫu M1 là: 27,5 x 11,38 mg/ml: 1000 = 0,312 gam.
Cáo trạng số 02/CT- VKS ngày 02/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B truy tố bị cáo Hoàng Văn H về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đại diệnViện kiểm sát nhân dân huyện B đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1, khoản 5 Điều 249; khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn H với mức án từ 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng đến 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù.
Phạt bị cáo Hoàng Văn H từ 5 triệu đến 8 triệu đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B đề nghị không áp dụng tình tiết giảm nhẹ là thật thà khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình Sự đối với Hoàng Văn H.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a,c khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy gồm:
Mẫu M3 2,703 gam nhựa thuốc phiện còn lại sau trích mẫu giám định; Mẫu M4 0,092 gam Heroine còn lại sau trích mẫu giám định; 01 (một) mảnh nilon màu hồng; 01(Một) mảnh nilon màu đen, 01(Một) mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ, 01(Một) lọ nhựa có nắp đậy; 01 (Một) lọ nhựa có nắp đậy mặt ngoài có dán giấy in dòng chữ “BERBERIN MỘC HƯƠNG”, được niêm phong vào bị thư của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai có ghi dòng chữ “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi khám xét khẩn cấp người, chỗ ở của Hoàng Văn H ngày 25/10/2024 tại thôn Sơn Hà, xã N, huyện B, tỉnh Lào Cai (mẫu M3 và M4)”; 01 bì thư niêm phong số 9164/KL – KTHS của Viện khoa học hình sự Bộ Công an, bên trong có 01 (Một) phong bì đã cắt mép, 01 (Một) lọ thuỷ tinh hình trụ tròn, có nắp đậy bằng cao su, ký hiệu M1, bên trong lọ có 19ml chất lỏng màu hồng.
Trả lại cho bị cáo 01 (Một) căn cước công dân mang tên Hoàng Văn H.
Tiếp tục tạm giữ: 01 (Một) điện thoại di động Iphone đã qua sử dụng số IMEL: 35310610083961 bên trong có gắn thẻ sim 0917553326; 01 (một) điện thoại Iphone đã qua sử dụng số IMEL: 335430073023723 có gắn thẻ sim số 0913829887, 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Viettel, số IMEL: 1350867443819634, gắn 02 thẻ sim số 0333401253 và 0822471643; 01 (Một) xe mô tô biển kiểm soát 24P6 – 9683, số máy 1382319, số khung 083181 đã qua sử dụng, kèm giấy đăng ký xe và số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) tạm giữ của Hoàng Văn H để đảm bảo công tác thi hành án.
Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tống tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người chứng kiến, tang vật thu giữ và kết luận giám định. Khoảng tháng 4, tháng 5 năm 2024, Hoàng Văn H đi mua của người phụ nữ không quen biết 03 (Ba) gói ma tuý Heroine với giá 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) và 01 (Một) gói thuốc phiện với giá 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng)để sử dụng cho bản thân, Hoàng Văn H đã sử dụng hết 02 (hai) gói ma túy heroine. Đến 12 giờ 20 phút, ngày 25/10/2024 thì bị tổ công tác Công an tỉnh Lào Cai khám xét, bắt giữ cùng tang vật. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Hoàng Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của của Nhà nước, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, bị cáo biết việc tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng khoảng tháng 4, tháng 5 năm 2024 bị cáo đã mua 3,669 (Ba phẩy sáu trăm sáu mươi chín) gam thuốc phiện và 0,135 gam (Không phẩy một trăm ba mươi lăm) gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân.Vì vậy, cần phải xét xử một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần áp dụng hình phạt tù theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật Hình sự, mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo có bố đẻ là ông Hoàng Văn Vinh được nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.
Nhân thân bị cáo là người có nhân thân xấu thường xuyên sử dụng chất ma túy là đối tượng nghiện.
Đối với đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện B bị cáo Hoàng Văn H không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ thật thà khai báo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy là không có căn cứ nên không chấp nhận.
Đối với các vấn đề khác liên quan trong vụ án:
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Hoàng Văn H việc sử dụng chỉ có mình bị cáo, không có ai biết và cùng tham gia. Do chỉ có duy nhất lời khai của bị cáo ngoài ra không có tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp.
Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho Hoàng Văn H vào khoảng tháng 4 tháng 5 năm 2024 Hoàng Văn H không biết họ tên, tuổi, địa chỉ, ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu khác để chứng minh nên Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện B không điều tra làm rõ được, khi nào xác minh làm rõ sẽ xử lý sau.
Đối với số ma tuý Methadone 27,5ml có nồng độ, khối lượng là: 27,5 x 11,38 mg/ml: 1000 = 0,312 gam thu giữ của Hoàng Văn H, bị cáo khai nhận là người nghiện chất ma tuý đang điều trị Methadone, thuộc đối tượng được cấp Methadone mang về nhà mỗi lần uống bị cáo bớt lại một ít cho vào lọ nhựa để dùng dần. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã làm việc với Bệnh viện đa khoa huyện B, Hoàng Văn H chấp hành đầy đủ việc nhận, sử dụng và nộp lại vỏ theo đúng quy định nên không có căn cứ để xử lý đối với bị cáo.
Đối với Bùi Văn Hà, khai nhận mua 02 gói ma tuý Heroine của Hoàng Văn H với giá 400.000 đồng. Quá trình điều tra Hoàng Văn H không thừa nhận đã bán 02 gói ma tuý cho Bùi Văn Hà vào ngày 25/10/2024, ngoài lời khai của Bùi Văn Hà không có tài liệu nào khác để chứng minh Hoàng Văn H đã bán 02 gói ma tuý cho Bùi Văn Hà. Ngày 31/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Bùi Văn Hà về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Hoàng Văn H có tài sản riêng vì vậy phạt bị cáo Hoàng Văn H 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về vật chứng vụ án: Sau giám định số vật chứng còn lại Mẫu M3 2,703 gam nhựa thuốc phiện; Mẫu M4 0,092 gam Heroine; 01 (một) mảnh nilon màu hồng; 01(Một) mảnh nilon màu đen, 01(Một) mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ, 01(Một) lọ nhựa có nắp đậy; 01 (Một) lọ nhựa có nắp đậy mặt ngoài có dán giấy in dòng chữ “BERBERIN MỘC HƯƠNG”; 01 bì thư niêm phong số 9164/KL – KTHS của Viện khoa học hình sự Bộ Công an, bên trong có 01 (Một) phong bì đã cắt mép, 01 (Một) lọ thuỷ tinh hình trụ tròn, có nắp đậy bằng cao su, ký hiệu M1, bên trong lọ có 19ml chất lỏng màu hồng. Xét đây là vật nhà nước cấm lưu hành và vật không có giá trị sử dụng cần tiêu hủy là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với 01 (Một) căn cước công dân mang tên Hoàng Văn H, xét thấy đây là giấy tờ tùy thân của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo là phù hợp.
Đối với 01 (Một) điện thoại di động Iphone đã qua sử dụng số IMEL: 35310610083961 bên trong có gắn thẻ sim 0917553326; 01 (một) điện thoại Iphone đã qua sử dụng số IMEL: 335430073023723 có gắn thẻ sim số 0913829887, 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Viettel, số IMEL: 1350867443819634, gắn 02 thẻ sim số 0333401253 và 0822471643; 01 (Một) xe mô tô biển kiểm soát 24P6 – 9683, số máy 1382319, số khung 083181 đã qua sử dụng, kèm giấy đăng ký xe và số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) tạm giữ của Hoàng Văn H, bị cáo còn phải thi hành khoản tiền phạt và tiền án phí hình sự sơ thẩm. Vì vậy cần tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm i khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn H 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 25/10/2024.
Phạt bị cáo Hoàng Văn H 5.000.000đ (Năm triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a,c khoản 1 điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ:
- 01(Một) bì thư niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, bên trong có Mẫu M3: 2,703 (Hai phẩy bẩy trăm linh ba) gam nhựa thuốc phiện, Mẫu M4: 0,092 (Không phẩy không trăm chín mươi hai)gam Heroine còn lại sau trích mẫu giám định cùng 01 mảnh nilon màu hồng, 01 mảnh nilon màu đen, 01 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ, 01 lọ nhựa có nắp đậy, 01 lọ nhựa có nắp đậy mặt ngoài có dán giấy in dòng chữ “BERBERIN MỘC HƯƠNG” mặt trước của bì niêm phong có ghi dòng chữ “ Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi khám xét khẩn cấp người, chỗ ở của Hoàng Văn H ngày 25/10/2024 tại thôn Sơn Hà, xã N, huyện B, tỉnh Lào Cai” mặt sau có chữ ký của Đặng Minh Đổng, Nguyễn Văn Cường, Ngô Thanh Nam, Hoàng Văn H.
- 01 bì thư niêm phong số 9164/KL – KTHS của Viện khoa học hình sự Bộ Công an, bên trong có 01 (Một) phong bì đã cắt mép, 01 (Một) lọ thuỷ tinh hình trụ tròn, có nắp đậy bằng cao su, ký hiệu M1, bên trong lọ có 19ml chất lỏng màu hồng. Mặt trước của bì có ghi Cơ quan cảnh sát điểu tra Công an huyện B, mặt sau có chữ ký của những người tham gia niêm phong.
Trả lại cho bị cáo 01 (Một) căn cước công dân mang tên Hoàng Văn H.
Tiếp tục tạm giữ: 01 (Một) điện thoại di động Iphone đã qua sử dụng số IMEL: 35310610083961 bên trong có gắn thẻ sim 0917553326; 01 (một) điện thoại Iphone đã qua sử dụng số IMEL: 335430073023723 có gắn thẻ sim số 0913829887, 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Viettel, số IMEL: 1350867443819634, gắn 02 thẻ sim số 0333401253 và 0822471643; 01 (Một) xe mô tô biển kiểm soát 24P6 – 9683, số máy 1382319, số khung 083181 đã qua sử dụng, kèm giấy đăng ký xe tạm giữ của Hoàng Văn H để đảm bảo công tác thi hành án.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/01/2025 giữa Công an huyện B và Chi cục thi hành án huyện B).
Tiếp tục tạm giữ số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) tạm giữ của Hoàng Văn H để đảm bảo công tác thi hành án.
(Theo biên bản giao nhận tài sản ngày 18/11/2024 giữa Công an huyện B và Kho bạc nhà nước Bát Xát).
Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Hoàng Văn H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, và 9 Luật thi hành án dân sự; Điều 7a Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh; -VKSND tỉnh -VKS huyệnBX ; -Đội ĐT - CAH -CAhuyện BX 3; -Bị cáo;NBChữa; - Sở TP; - T.H.A 2; - Lưu. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đỗ Thị Thanh Hương |