vanban.org

Bản án 01/2025/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Ayun Pa, tỉnh Gia Lai Tuyên án 15/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Thành T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Phạt bị cáo Lê Thành T 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 15/01/2025. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện V, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thành T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thành T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ AYUN PA
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2025/HS-ST
Ngày: 15-01-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AYUN PA, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Toàn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Hoàng Hùng,

Ông Nguyễn Đức Thại.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Hợi - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Ngọc Ánh, Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:

LÊ THÀNH T, ngày 10 tháng 01 năm 1999 tại huyện V, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Ngọc B và bà Nguyễn Thị P; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn Tiến T1, sinh ngày 02/5/2007 (Đã chết)

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Tiến Đ, sinh năm 1980 (là cha ruột bị hại).

Địa chỉ: B, xã I, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Võ Minh H, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Số C T, tổ C, phường Đ, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

- Công ty Cổ phần T3.

Địa chỉ: Số I, đại lộ T, khu công nghiệp S, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Số C P, phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Người làm chứng: Anh Vũ Đức V, sinh năm 2004.

Địa chỉ: Tổ dân phố A thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

- Bà N H’ J, sinh năm 1975.

Địa chỉ: Bôn Rưng M, xã I, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

Người phiên dich: Ông Siu H1; dân tộc Jrai

Địa chỉ: Tổ I, phường Đ, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào sáng ngày 03/8/2024, Lê Thành T (là lái xe của cửa hàng T4 chi nhánh tại huyện P, tỉnh Gia Lai) nhận được yêu cầu từ cửa hàng trưởng là anh Hoàng Văn M (Sinh năm 1993, trú tại: Tổ dân phố A, thị trấn P, huyện P, Gia Lai) về việc sử dụng xe ô tô tải có cần cẩu mang biển kiểm soát: 61C – 192.98 của cửa hàng để đi chở hàng gồm 16 cây thép hộp loại có kích thước (50mm x 100mm x 1,40mm x 6,0m) đến giao cho anh Võ Minh H (Sinh năm 1987; trú tại: C T, tổ C, phường Đ, thị xã A, Gia Lai) tại địa chỉ số F H, phường S, thị xã A, Gia Lai. Khi vận chuyển hàng cùng với T có thêm phụ xe là Vũ Quốc V1 (Sinh năm 2004; trú tại: Tổ dân phố A, thị trấn P, huyện P, Gia Lai). Đến khoảng 10 giờ 00’ cùng ngày, Tín điều khiển xe ô tô tải chở hàng đến địa chỉ số F H, phường S, thị xã A, Gia Lai gặp anh H. Tại đây, anh H nhờ T chở thêm 04 (bốn) tấm tôn loại tôn cán có cùng kích thước (10,325 x 1,08 x 0,00045)m cùng số sắt hộp Tín đang vận chuyển đến giao cho khách ở đường T, phường S, thị xã A, Gia Lai; T đồng ý rồi cùng anh H và V1 khiêng 04 (bốn) tấm tôn xếp chồng lên nhau bỏ lên thùng xe ô tô tải, tuy nhiên chiều dài thùng xe chỉ hơn 06m trong khi các tấm tôn dài 10,325m nên phần chiều dài tôn chênh lệch ra khỏi phía sau thùng xe hơn 04m nhưng T không thực hiện biện pháp che chắn, đảm bảo an toàn. Sau đó, Tín điều khiển xe ô tô chở anh H và V1 đi giao hàng cho khách, anh H chỉ đường cho Tín điều khiển xe ô tô tải lưu thông trên đường bê tông liên xã I (thuộc tổ F, phường S, thị xã A) theo hướng từ phường S đi xã I. Khi đi đến đoạn đường giao nhau giữa đường liên xã I và đường từ bôn H, xã I đi ra phi trường cũ, thị xã A thì T chuyển hướng xe ô tô tải rẽ phải vào đường bê tông tại khu vực cánh đồng hướng về phía phi trường cũ, thị xã A. Lúc này, anh Nguyễn Tiến T1 đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 81M1 – 081.60 trên đường liên xã I theo hướng từ xã I đi phường S, thị xã A. Quá trình xe ô tô do Tín điều khiển rẽ phải, phần góc mép tôn bên trái lòi ra khỏi phía sau thùng xe đã va quẹt vào phần cổ bên trái của anh Nguyễn Tiến T1 đang điều khiển xe mô tô đi đến. Hậu quả anh Nguyễn Tiến T1 tử vong tại Trung tâm y tế thị xã A. Trong quá trình di chuyển, T không biết việc xảy ra va chạm với anh T1 nên vẫn tiếp tục vận chuyển tôn đến giao cho khách tại đường T, phường S, thị xã A, Gia Lai.

Quá trình xác minh, Cơ quan điều tra Công an thị xã A đã trích xuất camera an ninh trên tuyến đường H, phường S, A và khu vực ngã ba đường H giao nhau với đường bê tông liên xã I, A (phát hiện xe ô tô biển kiểm soát 61C-192.98 do Lê Thành T điều khiển chở sắt hộp và 04 tấm tôn di chuyển trên đường H và đoạn rẽ vào đường bê tông liên xã I trong thời gian từ 10h09’34s đến 10h10’44s ngày 03/8/2024). Qua truy tìm phát hiện xe ô tô tải biển số 61C – 192.98 do Lê Thành T điều khiển đang đậu trước số A T, tổ D, phường S, thị xã A. Các tấm tôn đã được dỡ bỏ xuống khu vực lề đường bên phải (theo hướng từ đường H đi vào phi trường thị xã A). Tiến hành kiểm tra dấu vết trên 04 (bốn) tấm tôn phát hiện tại góc dưới bên trái của 04 (bốn) tấm tôn (tương ứng với chiều hướng khi đặt trên thùng xe ô tô) đều có dính vết màu nâu đỏ (nghi máu), Cơ quan điều tra đã lập biên bản kiểm tra, thu mẫu các dấu vết và niêm phong theo quy định để phục vụ công tác giám định.

Kết quả đo nồng độ cồn của Lê Thành T ngày 03/8/2024 là 0,000 miligam/1 lít khí thở; Tiến hành xét nghiệm chất ma túy cho kết quả âm tính.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định:

- Đoạn đường xảy ra vụ tai nạn giao thông thuộc tổ F, phường S, thị xã A là đoạn đường thẳng, gần ngã tư đường liên xã I và đường từ bôn H, xã I đi ra phi trường cũ, mặt đường được trải bê tông xi măng bằng phẳng rộng 5,8m, giữa đường có vạch sơn màu vàng đứt quãng phân chia đường thành hai chiều lưu thông. Hai bên đường có lề đất rộng 1,4m.

- Lấy mép đường bên phải của đường liên xã theo hướng xã I đi phường S làm mép đường chuẩn. Lấy trụ điện được đặt trên lề đường chuẩn nằm ở góc tây nam của ngã tư đường liên xã I và đường đất đi vào bôn H, xã I làm điểm mốc. Quá trình khám nghiệm, các vị trí, dấu vết, phương tiện được ghi nhận cụ thể như sau:

- Tại hiện trường vụ tai nạn giao thông phát hiện chất màu nâu đỏ đã khô (nghi là máu) dưới dạng nhỏ giọt nằm trên đường bê tông và vũng chất màu nâu đỏ nằm trên đường bê tông và lề đường, ký hiệu (1) có diện (8,44 x 1,3)m, xung quanh các giọt chất màu nâu đỏ có các tia hướng về phía đông; vũng chất màu nâu đỏ có diện (2,1 x 0,6)m. Vết (1) nằm bên phải đường theo hướng xã I đi phường S Đầu vết (1) cách mép chuẩn 0,17m, cách điểm mốc 29,48m, cách tiếp tuyến giữa lề trái đường liên xã I và lề đường bên phải đường bê tông đi ra phi trường 9,82m và cách tiếp tuyến giữa lề phải đường liên xã I và lề đường bên trái đường đất đi vào bôn H, xã I 16,1m; đuôi vết (1) trùng với mép đường chuẩn; tâm vết (1) cách mép đường chuẩn 0,45m.

- Cách tâm vết (1) 2,1m theo hướng đi phường S phát hiện mũ bảo hiểm màu trắng, nhãn hiệu Napoli có kích thước (0,235 x 0,205 x 0,145)m, trên mũ bảo hiểm và dây quai mũ dính chất màu nâu đỏ, ký hiệu (2) nằm trên lề đất bên phải, tâm vết (2) cách tâm vết (1) 2,1m và cách mép chuẩn 0,6m.

- Cách tâm vết (2) 21,78m theo hướng đi phường S phát hiện xe mô tô biển số 81M1 – 081.60, ký hiệu (3) nằm ngã nghiêng bên trái trong lề đường bên phải, đuôi xe hướng vào mép đường chuẩn, đầu xe hướng ngược lại; tâm đầu trục bánh xe sau cách tâm vết (2) 21,78m và cách mép đường chuẩn 2,29m; tâm đầu trục bánh xe trước cách mép đường chuẩn 3,42m.

Kết quả khám nghiệm phương tiện, xác định:

- Kết quả khám nghiệm xe ô tô tải biển số 61C – 192.98 xác định: Xe có chiều dài 9,23m, chiều rộng xe 2,28m. Thùng xe dài 6,27m, chiều rộng thùng xe 2,17m, chiều cao thành thùng xe 0,6m. Chiều cao từ mép dưới thùng xe xuống mặt đất là 1,28m. Trên xe không phát hiện dấu vết nào.

- Kết quả khám nghiệm xe mô tô biển số 81M1 – 081.60: Mặt lăn bên phải lốp trước xe mô tô có vết chà xát cao su trong diện (75 x 3)cm, trên vết chà xát có dính chất màu xanh lá cây.

Kết quả khám nghiệm tử thi Nguyễn Tiến T1, xác định:

- Vùng cổ trên, bên trái và phía trước có vết thương rách da kích thước (13x2,5)cm, bờ mép sắc gọn, sâu 02cm để lộ gân, cơ, mạch máu, thần kinh; vết thương có hai đầu tù, tâm vết thương cách xương mu 59cm về phía bên trái, cách dái tai trái 7cm về phía dưới.

- Vùng cổ, mô cơ dưới da vùng cổ trái bầm tụ máu; đứt lìa cơ ức đòn chũm trái; đứt một phần cơ ức móng, giáp móng trái; đứt lìa động mạch cảnh trong, tĩnh mạch cảnh trong, động mạch cảnh ngoài, tĩnh mạch cảnh ngoài; đứt lìa dây thần kinh cổ trái; khu vực vết thương có nhiều máu lỏng, màu đông.

Tại bản kết luận giám định tử thi số: 737/KLGĐTT-KTHS ngày 08/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh G, kết luận nguyên nhân chết của anh Nguyễn Tiến T1: “Mất máu cấp do đứt động mạch, tĩnh mạch cảnh trong và ngoài bên trái”.

Ngày 04/8/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã A ra Quyết định trưng cầu giám định số 184/QĐ-CSĐT, trưng cầu Phân Viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng giám định hàm lượng nồng độ cồn (E) và chất ma túy trong máu thu từ tử thi Nguyễn Tiến T1. Ngày 13/8/2024, Phân Viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng ra Kết luận giám định số: 1770/KL-KTHS xác định: Trong mẫu máu ghi thu của tử thi Nguyễn Tiến T1 gửi giám định không tìm thấy E (cồn), các chất ma túy và sản phẩm chuyển hóa của các chất ma túy.

Ngày 04/8/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã A ra Quyết định trưng cầu giám định số 185/QĐ-CSĐT, trưng cầu Phân Viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng giám định ADN trên mũ bảo hiểm, trong tạp chất màu nâu đỏ thu ở vũng chất màu nâu đỏ đã khô tại hiện trường và trong các chất màu nâu đỏ thu trên 04 tấm tôn. Ngày 13/8/2024, Phân Viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng ra Kết luận giám định số: 1769/KL-KTHS xác định: Trên mũ bảo hiểm, trong tạp chất màu nâu đỏ ghi thu ở vũng chất màu nâu đỏ đã khô tại hiện trường và trong các chất màu nâu đỏ ghi thu trên 04 tấm tôn có máu của Nguyễn Tiến T1.

Ngày 05/8/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã A ra Quyết định trưng cầu giám định số 191/QĐ-CSĐT, trưng cầu Sở giao thông vận tải tỉnh G giám định tình trạng an toàn kỹ thuật đối với xe ô tô tải có cần cẩu mang BKS: 61C – 192.98. Ngày 16/8/2024, Sở Giao thông vận tải tỉnh G ra Kết luận giám định tư pháp xác định: Xe ô tô biển số 61C - 192.98 trong thời gian giám định không đảm bảo an toàn kỹ thuật (sử dụng 02 bộ lốp phía sau, bên phải bị mòn quá giới hạn quy định, hở lớp sợi mành).

Kết quả thực nghiệm điều tra, xác định phần tôn lòi ra khỏi phía sau thùng xe ô tô tải mang biển kiểm soát 61C-192.98 hoàn toàn chắn ngang toàn bộ phần đường bê tông liên xã I khi xe chuyển hướng và có thể va quẹt với anh Nguyễn Tiến T1 đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 81M1-081.60 trên đường liên xã I theo hướng từ xã I đi phường S, thị xã A.

Vật chứng vụ án:

- 01 (một) xe ô tô tải có cần cẩu mang nhãn hiệu THACO, màu trắng mang biển kiểm soát 61C-192.98; kèm theo 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 02319 cấp ngày 05/01/2016, 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định số 0404046 cấp ngày 24/6/2024, 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô số DK23/0322990 cấp ngày 08/9/2023, 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện của chủ xe ô tô số BB23/0106279 cấp ngày 08/9/2023, 01 (một) bản photo giấy phép kinh doanh vận tải bằng xe ô tô số 300 ngày 14/6/2016 do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp. Qua điều tra xác định xe ô tô thuộc sở hữu của Công ty cổ phần T3 (địa chỉ số I Đại lộ T, Khu công nghiệp S, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương); Cơ quan điều tra đã trả lại xe ô tô cùng giấy tờ kèm theo cho ông Nguyễn Văn T2 – Giám đốc chi nhánh Công ty Cổ phần T3 tại tỉnh Gia Lai, được ủy quyền tham gia tố tụng trong vụ án.

- 01 (một) xe mô tô mang nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen – xám, mang biển kiểm soát 81M1-081.60. Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Nguyễn Tiến Đ (cha ruột của bị hại Nguyễn Tiến T1) là chủ sở hữu hợp pháp.

- 04 (bốn) tấm tôn loại tôn cán dập sóng có cùng kích thước (10,325 x 1,08 x 0,00045)m có hai mặt gồm mặt trên màu xanh và mặt dưới màu xám. Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Võ Minh H là chủ sở hữu hợp pháp.

- 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng, nhãn hiệu Napoli, kích thước (23,5 x 20,5 x 14,5)cm, trên mũ có bám dính chất màu nâu đỏ. Phần còn lại của tạp chất màu nâu đỏ (đựng trong túi nylon màu trắng) ghi thu ở vũng chất màu nâu đỏ đã khô tại hiện trường và phần còn lại các chất màu nâu đỏ ghi thu trên 04 (bốn) tấm tôn sau giám định. Các mẫu vật này được đựng trong 01 (một) thùng giấy, bên ngoài dán giấy trắng, trên giấy có hình dấu của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng và chữ ký, chữ viết của Lê Văn Đ1, Nguyễn Mạnh H2.

- 01 (một) giấy phép lái xe ô tô hạng C số 520228018206 cấp ngày 23/11/2022 mang tên Lê Thành T.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lê Thành T đã bồi thường cho gia đình bị hại Nguyễn Tiến T1 với số tiền 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng); đại diện Công ty cổ phần T3 hỗ trợ chi phí mai táng cho gia đình bị hại với số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng). Hiện gia đình bị hại không yêu cầu gì khác và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại Cáo trạng số 23/CT-VKS ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Lê Thành T về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Thành T về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thành T từ 18 đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 36 đến 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về trách nhiệm dân sự: Đã được thỏa thuận giải quyết xong.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự: Tuyên tịch thu để tiêu hủy: 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng, nhãn hiệu Napoli, kích thước (23,5 x 20,5 x 14,5)cm, trên mũ có bám dính chất màu nâu đỏ.

Trả lại cho bị cáo Lê Thành T 01 (một) giấy phép lái xe ô tô hạng C số 520228018206 do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 23/11/2022.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Thành T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của những người làm chứng; phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, Bản kết luận giám định pháp y về tử thi; phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, làm rõ tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Bị cáo Lê Thành T có giấy phép lái xe theo quy định. Vào khoảng hơn 10 giờ ngày 03/8/2024, bị cáo điều khiển xe ô tô tải có cần cẩu mang biển kiểm soát 61C – 192.98 từ địa chỉ số F H, phường S thị xã A để đi giao hàng cho khách tại đường T, phường S, thị xã A. Hàng hóa chở trên xe là 16 cây thép hộp vào 04 tấm tôn, trong đó 04 tấm tôn đều có chiều dài vượt quá kích thước của thùng xe hơn 04m nhưng bị cáo không thực hiện các biện pháp che chắn, báo hiệu. Trên đường đi bị cáo có cho xe rẽ phải theo lộ trình nhưng thiếu quan sát, không phát hiện ra người tham gia giao thông gần đó nên đã để phần tôn lòi ra phía sau va quẹt vào vùng cổ bên trái, phía trước của bị hại. Hậu quả làm bị hại tử vong ngay sau đó. Như vậy, bị cáo đã vi phạm điều kiện về “chuyển hướng xe” khi tham gia giao thông quy định tại khoản 2 Điều 15 và vi phạm quy định về “xếp hàng hóa trên phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản 2 Điều 20 Luật Giao thông đường bộ năm 2008. Hành vi vi phạm của bị cáo đã gây ra hậu quả làm chết một người. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi vô ý vì cẩu thả. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đủ yếu tố cấu thành tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như trên là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.

Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu. Trong vụ án này bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào. Từ giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo, biết ăn năn nên sau khi vụ án xảy ra đã tích cực bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại toàn bộ các khoản theo yêu cầu. Do vậy, cần áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự giảm nhẹ cho bị cáo. Tại phiên tòa, bị cáo được đại diện hợp pháp của bị hại tiếp tục đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Mặt khác, trong vụ án này bản thân bị hại cũng có lỗi một phần khi bị hại chưa đủ tuổi để được cấp giấy phép lái xe nhưng vẫn tự ý lấy xe mô tô của gia đình có dung tích xi lanh trên 70cm3. Với các nội dung nói trên, cần áp dụng them tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS cho bị cáo khi xem xét quyết định hình phạt.

Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, HĐXX thấy rằng đề nghị của Viện kiểm sát về việc xử phạt tù có thời hạn nhưng cho bị cáo hưởng án treo đối với bị cáo là thỏa đáng nên có thể xem xét áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo và giao về cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Đối với ông Nguyễn Tiến Đ là chủ xe mô tô biển kiểm soát 81M1-081.60. Ông Đ không biết việc Nguyễn Tiến T1 (chưa có giấy phép lái xe) tự ý lấy xe mô tô của ông điều khiển tham gia giao thông và bị tai nạn nên không có cơ sở xử lý.

Đối với xe ô tô tải có cần cẩu mang biển kiểm soát 61C-192.98 là tài sản của Công ty cổ phần T3 chi nhánh tỉnh G không đảm bảo an toàn kỹ thuật. Cơ quan điều tra đã chuyển đến Công an thị xã A xử lý hành chính theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Đã được thỏa thuận bồi thường xong. Tại phiên tòa đại diện hợp pháp của bị hại không còn yêu cầu gì khác nên HĐXX không xét. [5] Về xử lý vật chứng: Các phương tiện liên quan đến vụ tai nạn đã được giải quyết xong tại giai đoạn điều tra, việc xử lý là đúng pháp luật nên HĐXX không xem xét. Trong vụ án này, bị cáo không bị cấm hành nghề lái xe theo quy định tại khoản 5 Điều 260 BLHS nên trả lại cho bị cáo 01 (một) giấy phép lái xe ô tô hạng C số 520228018206 mang tên Lê Thành T, do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 23/11/2022.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố: Cơ quan điều tra Công an thị xã A và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, tuân thủ quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại không người nào có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Thành T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên xử:

Phạt bị cáo Lê Thành T 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 15/01/2025.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện V, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. 2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu để tiêu hủy 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng, nhãn hiệu Napoli, kích thước (23,5 x 20,5 x 14,5)cm, trên mũ có bám dính chất màu nâu đỏ.

Trả lại cho bị cáo Lê Thành T 01 (một) giấy phép lái xe ô tô hạng C số 520228018206 do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 23/11/2022.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21 tháng 11 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã A và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai)

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, 24 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Lê Thành T phải nộp 200.000 đồng án phí HSST để sung quỹ Nhà nước.

3. Quyền kháng cáo:

Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 15/01/2025.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.

Cỡ chữ