vanban.org

Bản án 01/2025/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 20/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Đậu Đức T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”.

Xử phạt: Đậu Đức T 15 (Mƣời lăm) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (Ba mươi tháng) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao Đậu Đức T cho UBND phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Đậu Đức T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Đậu Đức T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục lưu
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ TĨNH
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2025/HS-ST
Ngày 20/01/2025

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Sỹ Hùng

Ông Dƣơng Cao Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Trang – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Lành - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 01/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:

Đậu Đức T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 16/7/1990, tại thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Đậu Đức S và bà Trần Thị Q; Vợ Điện Thị L và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 31/10/2024 đến nay, có mặt.

- Bị hại: Anh Trần Văn N, sinh năm 1982; Trú tại: xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, đã chết.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Chị Trương Thị H, sinh năm 1983; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trú tại: thôn T, xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh, có mặt.

- Người làm chứng: Ông Đậu Đức H1, sinh năm 1969; Trú tại: tổ dân phố A, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 01/9/2024, Đậu Đức T (có giấy phép lái xe ô tô hạng C) điều khiển xe ô tô nhãn hiệu KIA SELTOS, màu trắng đen, biển kiểm soát: 38A-454.98 đang đỗ trên vỉa hè bên phải xuống đường Nguyễn Phan C, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh hướng từ đường Đ đi đường H rồi tiếp tục đi thẳng, sát với vỉa hè bên phải với tốc độ khoảng 10 đến 15km/h. Khi đi được khoảng 10m đến khu vực đối diện số nhà E đường N, T bật xi nhan trái quan sát thấy phía trước trên phần đường ngược chiều có xe mô tô do 01 người phụ nữ điều khiển cách xe của T khoảng 05 đến 07m với tốc độ bình thường; quan sát qua gương chiếu hậu bên trái thấy phía sau, di chuyển cùng chiều với xe ô tô của T có xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xanh đen do anh Trần Văn N điều khiển đi với tốc độ nhanh trên phần đường ngược chiều, sát vạch kẻ phân cách ở giữa đường và cách xe của T khoảng 100m. Nghĩ xe mô tô của anh N còn ở xa và khi thấy xe của T chuyển hướng anh N sẽ tự giảm tốc độ để tránh nên sau khi xe mô tô do người phụ nữ điều khiển đi đến trên phần đường ngược chiều qua đầu xe ô tô thì T bật xi nhan trái, rẽ trái sang phần đường ngược chiều với tốc độ khoảng 10km/h. Lúc này, T thấy anh N vẫn điều khiển xe mô tô đi trên đường N từ đường Đ đi đường H, sát vạch kẻ phân cách giữa đường, cách xe ô tô của T khoảng 15 đến 20m với tốc độ nhanh nên T đạp phanh, dừng lại để xe mô tô do anh N điều khiển có thể vượt phía trước đầu xe ô tô tránh xảy ra va chạm. Tuy nhiên, anh N vẫn tiếp tục điều khiển xe mô tô đi thẳng với tốc độ nhanh, khi cách xe ô tô khoảng 05m anh N mới đạp phanh khiến xe mô tô ngã nghiêng sang phải rồi đâm vào ốp cửa phía trước và phía sau bên trái, ốp thân xe phía bên trái, bậc lên xuống phía bên trái xe ô tô của T điều khiển rồi anh N và xe mô tô ngã xuống đường. T xuống xe cùng người dân đưa anh N đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh H. Hậu quả anh N tử vong ngay sau khi vào bệnh viện, 02 phương tiện liên quan bị hư hỏng.

Tiến hành khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông trong điều kiện thời tiết nắng, ánh sáng ban ngày, có ánh sáng mặt trời. Hiện trường vụ tai nạn giao thông bị xáo trộn do quá trình cấp cứu người bị nạn.

Hiện trường xảy ra vụ tai nạn giao thông được xác định là trên đường N, trước số nhà E thuộc tổ dân phố A, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Đường Nguyễn Phan C là đường hai chiều, được phân chia bởi vạch kẻ màu vàng nét đứt ở giữa đường, mặt đường rộng 6,9m, mỗi phần đường rộng 3,45m; đường thẳng, phẳng, được trải thảm nhựa, không có chướng ngại vật, tầm nhìn không bị che khuất. Tại vị trí vỉa hè bên phải đường N theo hướng từ đường Đ đi đường H có biển cảnh báo số W.207c “Giao nhau với đường không ưu tiên”.

Lấy cột điện kí hiệu “472E18.1-86105-NR VĂN YÊN 6” trên vỉa hè bên phải của đường N từ Tây sang Đ làm điểm mốc cố định. Lấy mép đường bên phải của đường N theo hướng từ T sang Đ làm mép đường chuẩn. Vết cày (1) có kích thước 2,7x0,01m, đầu vết cày cách điểm mốc về phía T là 6,45m, đầu vết cày cách mép đường chuẩn là 4,1m, đuôi vết cày cách mép đường chuẩn là 4,2m. Vết cày (2) có kích thước 2,6x0,01m, điểm đầu vết cày (2) cách điểm cuối vết cày (1) là 1,3m, cách mép đường chuẩn là 3,7m; điểm cuối vết cày (2) cách mép đường chuẩn là 4,2m. Vết màu xanh (3) có kích thước 1,5x0,03m, điểm đầu vết (3) cách điểm đầu vết cày (2) là 0,16m, cách mép đường chuẩn là 3,7m; điểm cuối vết cày (2) cách mép đường chuẩn là 4,2m. Vết cày (4) có kích thước 2,1x0,01m, điểm đầu vết cày (4) cách điểm đầu dấu vết (3) là 0,56m, cách mép đường chuẩn là 3,63m; điểm cuối vết cày (4) cách mép đường chuẩn là 3,9m. Xe ô tô nhãn hiệu KIA SELTOS, mang BKS: 38A-454.98 (5) nằm trên phần đường xe chạy, đầu xe hướng Bắc, đuôi xe hướng Nam; tâm bánh sau bên trái xe cách điểm cuối vết cày (4) là 1,3m, cách mép đường chuẩn là 3,2m; tâm bánh trước bên trái xe cách mép đường chuẩn là 4,7m. Vùng mảnh vỡ (6) có kích thước 3,4x2,4m, tâm vùng mảnh vỡ cách mép đường chuẩn là 6m, cách tâm bánh trước bên trái xe ô tô (5) là 1,3m. Xe mô tô nhãn hiệu H, mang BKS: 38M1-430.71 (7) nằm trên phần đường xe chạy, xe ngã nghiêng bên phải, đầu xe hướng T, đuôi xe hướng Đ; tâm bánh sau xe cách tâm vùng mảnh vỡ (6) là 0,4m, cách mép đường chuẩn là 6,3m; tâm bánh trước xe cách mép đường chuẩn là 6,05m. Mũ bảo hiểm (8) màu cam đen, bị lật ngửa, nằm cách tâm bánh trước xe mô tô (7) là 01m, nằm trên lề đường bên phải đường N theo hướng đi ra đường N; đường thẳng nối từ mũ bảo hiểm đến tâm bánh trước xe mô tô (7) vuông góc với mép đường chuẩn.

Biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông xe mô tô Honda Vision, biển kiểm soát: 38M1-430.71 phản ánh: Phần bên phải mặt lăn của lốp bánh trước có dấu vết mài trượt, kích thước 32cm x 03cm; chiều hướng từ ngoài vào tâm; tâm dấu vết cách chân van 68cm theo chiều chuyển động tiến của bánh xe. Ốp mặt nạ phía trước bị bung rời các chốt định vị; mặt ngoài có dấu vết nứt vỡ, trượt xước và bám dính chất màu trắng, kích thước 29cm x 18,5cm; chiều hướng dấu vết từ trước ra sau; tâm dấu vết cao cách mặt đất 84cm. Ốp logo bị bung rời khỏi phương tiện. Cánh ướm phía bên phải có dấu vết mài trượt, kích thước 22cm x 14cm; chiều hướng dấu vết từ trước ra sau, tâm dấu vết cao cách mặt đất 73cm. Đèn chiếu sáng phía trước bị gãy, bung rời khỏi phương tiện. Góc bên trái ốp tay lái phía trước có dấu vết gãy vỡ, trượt xước, mất sơn và bám dính chất màu đen, kích thước 17cm x 13,5cm; chiều hướng dấu vết từ trước ra sau; tâm dấu vết cao cách mặt đất 102cm. Góc bên phải ốp tay lái phía trước có dấu vết mài trượt, kích thước 18cm x 03cm; chiều hướng dấu vết từ trước ra sau, tâm dấu vết cao cách mặt đất 102,5cm. Mặt ngoài tay phanh bên phải có dấu vết mài trượt, kích thước 15cm x 1,2cm; tâm dấu vết cao cách mặt đất 98cm. Tay lái bên phải bị xô lệch, chiều hướng từ trước ra sau. Đầu mút tay lái có dấu vết trượt xước, kích thước 03cm x 02cm; tâm dấu vết cao cách mặt đất 98cm. Mặt ngoài giá gương bên trái có dấu vết mài trượt, kích thước 2,5cm x 0,8cm; tâm dấu vết cao cách mặt đất 103cm. Gương chiếu hậu phía bên trái bị xô lệch, chiều hướng từ phía trước ra sau. Bảng điều khiển bị xô lệch, chiều hướng từ trước ra sau. Ốp nhựa của bảng điều khiển có dấu vết nứt vỡ, kích thước 14cm x 09cm; tâm dấu vết cao cách mặt đất 97cm. Ốp tay lái phía sau bị xô lệch, chiều hướng từ trước ra sau. Ốp bên phải bàn đạp chân phía trước, có dấu vết mài trượt, kích thước 28,5cm x 07cm; chiều hướng dấu vết từ phải sang trái, tâm dấu vết cao cách mặt đất 22,5cm. Mặt ngoài bàn đạp chân phía sau bên phải có dấu vết trượt xước, kích thước 12cm x 2,5cm; chiều hướng dấu vết từ trước ra sau; tâm dấu vết cao cách mặt đất 36cm. Ốp bảo vệ ống xả có dấu vết nứt vỡ, trượt xước, kích thước 29cm x 07cm; tâm dấu vết cao cách mặt đất 32,5cm. Ngoài ra, qua phương pháp kiểm tra thủ công, xác định hệ thống còi, đèn, phanh bị hư hỏng, gương chiếu hậu bị cong gập.

Biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông xe ô tô nhãn hiệu Kia Seltos, biển kiểm soát: 38A-454.98 phản ánh: Ốp cửa phía trước bên trái bị bung rời khỏi phương tiện; mặt ngoài của ốp cửa có dấu vết trượt xước, bám dính chất màu xanh, kích thước 26x2,5cm, chiều hướng từ sau ra trước. Ốp cửa phía sau bên trái bị gãy bung rời khỏi phương tiện. Mặt ngoài cửa phía sau bên trái có dấu vết móp mép, trượt xước, bám dính chất màu đen, kích thước 24x14cm, chiều hướng từ trái sang phải, tâm dấu vết cách mặt đất 45cm. Mặt ngoài mảnh vỡ ốp cửa phía sau bên trái có dấu vết trượt xước, bám dính chất màu đen, kích thước 24x08cm. Mặt ngoài ốp thân xe phía bên trái (vị trí phía trên bậc lên xuống) có dấu vết trượt xước, rách nhựa, kích thước 33x06cm, chiều hướng từ sau ra trước, tâm dấu vết cách mặt đất 33,5cm. Mặt ngoài bậc lên xuống phía bên trái có dấu vết trượt xước, bám dính chất màu xanh (dạng sơn), kích thước 108x05cm, chiều hướng từ sau ra trước, tâm dấu vết cao cách mặt đất 21,5cm. Ngoài ra, bằng phương pháp kiểm tra thủ công, xác định: Hệ thống điều khiển, còi, đèn và phanh hoạt động bình thường; xe không có camera hành trình.

Bản kết luận giám định số 1126/KL-KTHS ngày 17/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh H xác định: Xe ô tô mang biển kiểm soát 38A-454.98 và xe mô tô mang biển kiểm soát 38M1- 430.71 có va chạm với nhau. Ốp cửa phía trước và phía sau bên trái, ốp thân xe phía bên trái, bậc lên xuống phía bên trái xe ô tô với ốp mặt nạ phía trước, ốp tay lái phía trước xe mô tô là vị trí va chạm của hai phương tiện; Xe mô tô mang biển kiểm soát 38M1- 430.71 va chạm với xe ô tô mang biển kiểm soát 38A-454.98 khi xe mô tô đã ngã nghiêng; Vị trí va chạm giữa xe ô tô mang biển kiểm soát 38A-454.98 và xe mô tô mang biển kiểm soát 38M1-430.71 nằm trên phần đường bên trái đường N, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh theo chiều từ đường Đ đi đường H.

Bản kết luận định giá tài sản số 11/KL-ĐGTS ngày 30/9/2024 của Hội đồng định giá UBND thành phố H, kết luận: Xe mô tô Honda Vision, BKS: 38M1-430.71, đã hư hỏng một số bộ phận do vụ tai nạn giao thông, tổng trị giá thiệt hại tại thời điểm tháng 09/2024 là 1.310.000 đồng. Xe ô tô KIA SELTOS, màu trắng đen, BKS: 38A-454.98, đã hư hỏng một số bộ phận do vụ tai nạn giao thông, tổng trị giá thiệt hại tại thời điểm tháng 09/2024 là 3.290.000 đồng.

Biên bản khám nghiệm tử thi xác định: Tử thi nam giới, được xác định là

anh Trần Văn N, sinh năm 1982, trú tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Các dấu vết tổn trương trên cơ thể: Lông mày trái có đám sưng nề, bầm tụ máu, kích thước 05x03cm; trên nền sưng nề, ngay đầu lông mày trái có vết thương, kích thước 1,5x0,5cm. Gò mà trái, cách dưới đuôi mắt trái 04cm có vết xây xát da, kích thước 03x02cm. Vùng cằm có đám xây xát da, kích thước 05x03cm. Vùng cổ bên trái có vết hằn, bầm tụ máu, kích thước 13x07cm. Mặt trước vai trái có đám sưng nề, bầm tụ máu, kích thước 08x07cm. Mặt sau khuỷu tay phải có đám xây xát da, kích thước 06x04cm. Mặt trước gối phải có đám xây xát da, kích thước 14x07cm. Mu bàn chân phải có một số vết xây xát da rải rác. Giải phẫu vùng cổ: Tụ máu quan đốt sống cổ C4-C5; Trật đốt sống cổ C4-C5.

Bản kết luận giám định số 1099/KL-KTHS ngày 09/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh H xác định: Nguyên nhân chết của nạn nhân Trần Văn N là: Chấn thương cột sống cổ.

Theo phiếu kiểm tra nồng độ cồn lập hồi 11 giờ 15 phút ngày 01/9/2024 của Công an thành phố H, kết quả xét nghiệm chất ma túy ngày 01/9/2024 của Bệnh viện Đa khoa tỉnh H: Đậu Đức T không có nồng độ cồn và âm tính với chất ma túy.

Theo Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn ngày 01/9/2024 của Bệnh viện Đa khoa tỉnh H: Anh Trần Văn N có định lượng 242.6 mg/dl (vượt quá mức nồng độ cồn cho phép khi tham gia giao thông).

Tại bản cáo trạng số 04/CT-VKS-TPHT ngày 31/12/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh đã truy tố Đậu Đức Thành về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát luận tội giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt Đậu Đức T từ 15 đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục lưu tại hồ sơ vụ án 01 đĩa CD, màu vàng chứa video liên quan đến vụ tai nạn giao thông, kích thước 10,3 MB. Trả lại cho Đậu Đức T với 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng C số 420151008641 mang tên Đậu Đức T.

Tại phần tranh luận, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hai không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác xuất trình tài liệu chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật; Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đầy đủ chứng cứ kết luận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 01/9/2024, tại khu vực trước số nhà E đường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh, Đậu Đức T điều khiển xe ô tô Kia Seltos, màu trắng đen, biển kiểm soát: 38A-454.98 mặc dù thấy anh Trần Văn N điều khiển xe mô tô đi cùng chiều với tốc độ nhanh nhưng T vẫn rẽ trái khiến anh N không kịp xử lý và đâm vào phía bên trái xe của T. Hậu quả khiến anh Trần Văn N tử vong.

Đậu Đức T điều khiển xe ô tô không tuân thủ các quy tắc khi tham gia giao thông, chuyển hướng xe gây nguy hiểm cho người và phương tiện khác là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tai nạn, lỗi chính trong vụ án thuộc về bị cáo. Đậu Đức T có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, Đậu Đức T đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Đối với anh Trần Văn N điều khiển xe mô tô không đúng phần đường và trong máu có nồng độ cồn là một phần nguyên nhân dẫn đến tai nạn.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị hại cũng có lỗi và gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ và hậu quả hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn, hậu quả của tai nạn giao thông là gánh nặng cho gia đình và xã hội, cần xử phạt mức án thoả đáng. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, sau khi tai nạn xảy ra có trách nhiệm với gia đình bị hại, bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo là đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm. Tuy nhiên, bị cáo không hành nghề kinh doanh vận tải. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Xét luận tội và đề nghị của Đại diện viện kiểm sát là đúng người, đúng tội, về mức án là phù hợp.

Về dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra và quá trình điều tra, Đậu Đức T đã bồi thường cho gia đình anh Trần Văn N tổng số tiền 300.000.000 đồng. Đại diện gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm. Đối với phần hư hỏng thiệt hại của xe ô tô biển kiểm soát 38A-454.98 và xe mô tô biển kiểm soát 38M1-430.71, Đậu Đức T và chị Trương Thị H sau khi nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường, miễn xét.

Về xử lý vật chứng:

Cơ quan điều tra đã thu giữ tại hiện trường 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xanh đen, biển kiểm soát 38M1-430.71 và đã trả lại cho đại diện của gia đình bị hại là chị Trương Thị H; Thu giữ 01 xe ô tô nhãn hiệu Kia Seltos, màu trắng đen, biển kiểm soát 38A-454.98 và đã trả lại cho Đậu Đức T là phù hợp.

Đối với 01 đĩa CD, màu vàng chứa video liên quan đến vụ tai nạn giao thông, kích thước 10,3 MB theo quy định tại khoản 1 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục lưu tại hồ sơ vụ án.

Đối với 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng C số 420151008641 mang tên Đậu Đức T căn cứ khoản 1 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, trả lại cho bị cáo.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật hình sự,

Tuyên bố: Đậu Đức T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”.

Xử phạt: Đậu Đức T 15 (Mƣời lăm) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (Ba mươi tháng) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao Đậu Đức T cho UBND phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 và Điều 68 của Luật thi hành án hình sự.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục lưu tại hồ sơ vụ án 01 đĩa CD, màu vàng chứa video liên quan đến vụ tai nạn giao thông, kích thước 10,3 MB. Trả lại cho Đậu Đức T với 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng C số 420151008641 mang tên Đậu Đức T.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc Đậu Đức T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, Người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ