- Tranh chấp gì? án hình sự — "Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh C 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội «Mua bán trái phép chất ma túy» - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh C 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội «Mua bán trái phép chất ma túy». Thời hạn tù tính từ ngày 04/5/2024.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2025/HS-ST Ngày: 09/01/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Liên.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lưu Ly.
Ông Lê Tấn Hoàng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Đức - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 143/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 194/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Minh C; Sinh ngày: 15/6/1972; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: 40D/1A đường HT, Phường K, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn Ng và bà: Huỳnh Thị U (chết); Có vợ: Là bà Trần Thị Ngọc D1 và con: Có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2014; Tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giữ từ ngày 04/5/2024.
Tiền án: Ngày 18/9/2020, bị Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội «Mua bán trái phép chất ma túy» (Bản án số: 136/2020/HS-ST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/6/2022 và đã thi hành xong án phí, nộp phạt ngày 01/3/2021 (Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số: 687/GCN của Trại giam An Phước và Công văn trả lời xác minh số: 1478/CCTHADS ngày 03/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh).
Nhân thân: Ngày 30/3/2006, bị Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 03 tháng về tội «Đánh bạc» (Bản án số: 21/2006/HSST). Đã thi hành xong án phí, nộp phạt (Công văn trả lời xác minh số: 1619/CTHADS ngày 14/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh).
(bị cáo có mặt tại phiên tòa)
2. Hoặc Chấn H (bị cáo khai tên gọi khác: Phí, Hoặc Chắn H); Sinh ngày: 20/4/1978; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: 49/4/4 đường PTC, phường A, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: B3/6A ấp H, xã V, huyện BC, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Chạy xe Honda ôm; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoặc Kh (chết) và bà: Chắng A M1; Hoàn cảnh gia đình: Bị cáo khai có vợ là bà Phạm Thị X (đã ly hôn) và có 01 người con, sinh năm 2009; Tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giữ từ ngày 30/4/2024.
Tiền án: Ngày 09/3/2021, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» (Bản án số: 41/2021/HS-ST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/7/2022 và đã thi hành xong án phí ngày 29/6/2022 (Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số: 584/GCN của Trại giam Thạnh Hòa và Công văn trả lời xác minh số: 1440/CCTHADS ngày 07/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh).
Nhân thân:
- Ngày 12/12/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 36 tháng tù về tội «Cướp tài sản của công dân» (Bản án số: 201/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/01/2003 (Giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù số: 75/GCN của Trại giam Tống Lê Chân). Được xét miễn nộp tiền áp phí (Công văn trả lời xác minh số: 2963/CCTHADS ngày 03/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Ngày 08/02/2012, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định đưa vào Cơ sở chữa bệnh 24 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (Quyết định số: 568/QĐ-UBND). Chấp hành xong ngày 14/02/2014 (Giấy chứng nhận số: 50/CN-PĐ ngày 09/12/2013 của Trung tâm Giáo dục Lao động Xã hội Phú Đức).
- Ngày 02/11/2017, bị Công an phường An Lạc A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (Quyết định số: 0016732/QĐ-XPVPHC). Đã nộp phạt ngày 19/4/2018 (Biên lai thu số 0003239 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam).
- Ngày 31/8/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở Cai nghiện bắt buộc 24 tháng về hành vi sử dụng chất ma túy (Quyết định số: 211/QĐ-TA). Chấp hành xong ngày 15/7/2017 (Giấy chứng nhận số: 216/GCN-TTGDLĐXH ngày 31/5/2017 của Trung tâm Giáo dục Lao động Xã hội Phú Đức).
(bị cáo có mặt tại phiên tòa)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Hộ kinh doanh nhà nghỉ TB; Địa chỉ: 132 đường C, khu dân cư BH, ấp H, xã BH, huyện BC, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người đại diện Hộ kinh doanh: Bà Phạm Thị Ngọc D; Sinh năm: 1951; Trú tại: B6/275/1 ấp H, xã ĐP, huyện BC, Thành phố Hồ Chí Minh.
(vắng mặt)
2. Bà Lê Thị Nguyệt M; Sinh năm: 1976; Thường trú: 179 đường BT, Phường G, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Số 2 đường M (khu dân cư BH), ấp H, xã BH, huyện BC, Thành phố Hồ Chí Minh.
(vắng mặt)
3. Bà Hồ Thị T; Sinh năm: 1969; Thường trú: Ấp Đ2, xã TT, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở: Ấp HB, xã TT, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 30/4/2024, tổ công tác thuộc Đội cảnh sát hình sự Công an Quận 6 phối hợp cùng Công an Phường 13, Quận 6 trên đường tuần tra phát hiện Hoặc Chấn H điều khiển xe gắn máy biển số 60P7-9685 chạy đến trước nhà số 230 đường B, Phường N, Quận F có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra, đã thu giữ trong túi quần phía trước bên trái của H 01 gói thuốc lá hiệu Jet màu trắng, bên trong gói thuốc lá có 12 gói giấy bạc chứa bột màu trắng (H khai đó là Heroine mua của Nguyễn Minh C tại phòng 001 nhà nghỉ TB, địa chỉ 132 đường C, khu dân cư BH, ấp H, xã BH, huyện BC). Ngoài ra, còn thu giữ của H 01 chiếc điện thoại di động hiệu Masstel màu xanh. Sau đó, tổ công tác đã giao H cùng các vật chứng nêu trên và chiếc xe gắn máy biển số 60P7-9685 cho Cơ quan điều tra Công an Quận 6 giải quyết.
Tiến hành khám xét nơi ở của Hoặc Chấn H tại địa chỉ B3/6A ấp H, xã V, huyện BC, tổ công tác còn thu giữ 01 gói nylon chứa bột màu trắng (để trên đầu tủ quần áo); 01 gói thuốc lá hiệu Jet, bên trong có 01 gói nylon chứa bột màu trắng và 01 gói thuốc lá hiệu Jet, bên trong có 14 gói giấy bạc chứa bột màu trắng (để trong túi áo khoác treo trên tường).
Từ lời khai của Hoặc Chấn H về nguồn gốc Heroine, tổ công tác tiến hành khám xét nơi ở của Nguyễn Minh C tại phòng 001 nhà nghỉ TB, địa chỉ 132 đường C, khu dân dư BH, ấp H, xã BH, huyện BC. Qua kiểm tra, đã thu giữ trong túi quần Jean phía sau bên trái (treo trên tường) 02 gói nylon, bên ngoài được quấn băng keo màu đen, bên trong chứa bột màu trắng (C khai là Heroine). Ngoài ra, còn thu giữ của C 02 chiếc điện thoại di động cùng hiệu Nokia màu xanh và 01 cuộn băng keo màu đen (để trên bàn).
Tiến hành khám xét nhà của Nguyễn Minh C tại địa chỉ 40D/1A đường HT, Phường K, Quận H, tổ công tác không phát hiện và thu giữ tang vật gì liên quan đến ma túy.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Minh C, Hoặc Chấn H khai: Khoảng giữa tháng 4/2024, Nguyễn Minh C thuê phòng 001 nhà nghỉ TB, địa chỉ 132 đường C, khu dân dư BH, ấp H, xã BH, huyện BC để ở và mua bán ma túy (loại Heroine). Về nguồn gốc ma túy, C mua của một người tên Hữu (không rõ lai lịch) có số điện thoại 0703584907. Ngày 28/4/2024, C liên lạc với Hữu mua 01 gói Heroine giá 4.400.000 đồng. Khoảng 09 giờ ngày 30/4/2024, Hoặc Chấn H gọi vào số điện thoại 0582723365 của C hỏi mua Heroine với giá 5.000.000 đồng, C đồng ý và kêu H đến phòng 101 nhà nghỉ TB nhận. Đến 10 giờ cùng ngày, H đến phòng 101 gặp C nhận 02 gói Heroine được quấn băng keo màu đen (giá mỗi gói là 2.500.000 đồng). Sau đó, H đem về nhà (địa chỉ B3/6A ấp H, xã V, huyện BC) lấy 01 gói bỏ vào bao thuốc lá hiệu Jet và cất trong túi áo khoác. Còn 01 gói H lấy ra một ít sử dụng, số còn lại H chia thành 12 phần để vào 12 gói giấy bạc, rồi bỏ 12 gói giấy bạc này trong bao thuốc lá hiệu Jet màu trắng và cất trong túi quần phía trước bên trái. Đến 17 giờ cùng ngày, H điều khiển xe gắn máy biển số 60P7-9685 đi gặp một người bạn (không rõ lai lịch) ở khu vực chợ Phú Lâm và khi chạy đến trước nhà số 230 đường BH thì bị kiểm tra bắt giữ như nêu trên. Ngoài ra, C và H đều xác nhận tính đến ngày bị bắt, C đã bán Heroine cho H 02 lần, địa điểm giao dịch đều tại phòng 101 nhà nghỉ TB (mỗi lần C thu lợi 600.000 đồng).
Riêng 14 gói giấy bạc chứa bột màu xám để trong 01 bao thuốc lá hiệu Jet, H khai là của một người bạn tên Minh (không rõ lai lịch) cho cách khoảng 01 năm để sử dụng, nhưng do sợ ma túy giả nên H không sử dụng mà để trong túi áo khoác treo trên tường cho đến khi bị phát hiện.
Cơ quan điều tra tiến hành cho Nguyễn Minh C nhận dạng người qua hình ảnh và C xác định Hoặc Chấn H chính là người đã mua của C 02 gói Heroine với giá 5.000.000 đồng tại nhà nghỉ TB, địa chỉ 132 đường C, khu dân dư BH, ấp H, xã BH, huyện BC vào ngày 30/4/2024.
Theo kết quả xét nghiệm chất ma túy ngày 02 tháng 5 năm 2024 của Trạm y tế Phường 13, Quận 6, Hoặc Chấn H dương tính với ma túy (MOP).
Tại Kết luận giám định số: 5305/KL-KTHS ngày 08 tháng 5 năm 2024, Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận:
- Gói 1: Bột màu trắng trong 12 gói giấy bạc để trong 01 bao thuốc lá hiệu Jet được niêm phong, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Hoặc Chấn H, Nguyễn Linh Huy (người chứng kiến) và hình dấu Công an Phường 13, Quận 6 (ký hiệu m1) cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,9582g (không phẩy chín năm tám hai gam), loại Heroine.
- Gói 2, gói 3, gói 4 được niêm phong, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Hoặc Chấn H, Nguyễn Văn Tiến (người chứng kiến) và hình dấu Công an xã VLB, huyện BC, bên trong:
+ Gói 2: Bột màu trắng trong 01 gói nylon (ký hiệu m2) cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,7015g (một phẩy bảy không một năm gam), loại Heroine.
+ Gói 3: Bột màu trắng trong 01 gói nylon để trong 01 bao thuốc lá hiệu Jet (ký hiệu m3) cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 3,7614g (ba phẩy bảy sáu một bốn gam), loại Heroine.
+ Gói 4: Bột màu xám trong 14 gói giấy bạc để trong 01 bao thuốc lá hiệu Jet (ký hiệu m4) cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 1,2883g (một phẩy hai tám tám ba gam), loại Heroine.
Tại Kết luận giám định số: 5318/KL-KTHS ngày 09 tháng 5 năm 2024, Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận: Bột màu trắng trong 02 gói nylon được quấn băng keo màu đen được niêm phong, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Minh C, Trần Khánh P (người chứng kiến) và hình dấu Công an xã VLB, huyện BC (ký hiệu m) cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 7,4432g (bảy phẩy bốn bốn ba hai gam), loại Heroine (có tên khoa học là Diacetylmorphine).
Ngày 08 tháng 5 năm 20224, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự (Quyết định số: 59/QĐ-ĐCSHS); khởi tố bị can đối với Hoặc Chấn H về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» (Quyết định số: 75/QĐ-ĐCSHS); khởi tố bị can đối với Nguyễn Minh C về tội «Mua bán trái phép chất ma túy» (Quyết định số: 76/QĐ-ĐCSHS).
Đối với người đàn ông tên Hữu bán ma túy cho Nguyễn Minh C và người tên Minh cho Hoặc Chấn H 14 gói ma túy, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Cơ quan điều tra Công an Quận 6 đang tiến hành điều tra xác minh, khi nào làm rõ xử lý sau.
Tại Cáo trạng số: 119/CT-VKS-Q6 ngày 19 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh C về tội «Mua bán trái phép chất ma túy» theo quy định tại điểm b, điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; truy tố bị cáo Hoặc Chấn H về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa: Bị cáo Hoặc Chấn H khai nhận chính bị cáo đã thực hiện hành vi mua ma túy (loại Heroine) của Nguyễn Minh C để sử dụng và tính đến ngày bị bắt, bị cáo đã mua ma túy của C 02 lần, mỗi lần cách nhau khoảng nửa tháng (địa điểm giao nhận ma túy đều tại phòng 101 nhà nghỉ TB, địa chỉ 132 đường C, khu dân dư BH, ấp H, xã BH, huyện BC). Lần đầu bị cáo mua 02 cục ma túy giá 5.000.000 đồng; lần hai là ngày bị bắt, bị cáo mua 02 cục ma túy giá 5.000.000 đồng;
Bị cáo Nguyễn Minh C khai nhận chính bị cáo, đã thực hiện hành vi mua bán ma túy (loại Heroine) như nội dung bản cáo trạng nêu, đồng thời bị cáo xác nhận lời khai của bị cáo Hoặc Chấn H tại phiên tòa là đúng và không có ý kiến gì thêm. Về khoản thu lợi từ hành vi bán ma túy cho Hoặc Chấn H, bị cáo khai thu lợi tổng cộng 1.200.000 đồng (bán ma túy cho H 02 lần, mỗi lần thu lợi 600.000 đồng). Riêng 2.500.000 đồng mà bị cáo tự nguyện giao nộp là tiền bị cáo có được từ việc bán ma túy cho Hoặc Chấn H vào sáng ngày 30/4/2024.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Minh C, Hoặc Chấn H như bản cáo trạng và sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Phạt bị cáo Nguyễn Minh C từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm 06 tháng tù về tội «Mua bán trái phép chất ma túy» theo điểm b, điểm i khoản 2 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Phạt bị cáo Hoặc Chấn H từ 06 năm 06 tháng đến 07 năm tù về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» theo điểm g khoản 2 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Phạt tiền bị cáo Nguyễn Minh C từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng và buộc bị cáo nộp lại 600.000 đồng, là khoản tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội để sung vào ngân sách nhà nước.
Còn bị cáo Hoặc Chấn H không có khả năng thi hành. Mặt khác quá trình điều tra cho thấy, bị cáo phạm tội không vụ lợi, nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo này.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Masstel màu xanh, số Imei 1: 301014163925115, số Imei 2: 301014163925123; 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia TA-1034 màu xanh, số Imei 1: 352408094138961, số Imei 2: 353407092716968 và số tiền 2.500.000 đồng.
Giao 01 chiếc xe gắn máy màu đỏ xám đen, biển số 60P7-9685, số máy: VHLFM152FMH-V01124206, số khung: RMNWCHSMN9H0024206 (loại xe hai bánh từ 50 - 175cm3, nhãn hiệu SYMEN, số loại 110, dung tích 107) cho Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6 để thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng, nếu hết thời hạn thông báo mà vẫn không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp của chiếc xe thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định pháp luật.
Tịch thu, tiêu hủy: 04 gói ma túy đã được niêm phong, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn Út L, Lê Trung H. Bên trong: Gói 1 có 12 gói giấy bạc chứa bột màu trắng để trong 01 bao thuốc lá hiệu Jet, có tổng khối lượng 0,8167 gam; Gói 2 có 01 gói nylon chứa bột màu trắng, có khối lượng 1,6201 gam; Gói 3 có 01 gói nylon chứa bột màu trắng để trong 01 bao thuốc lá hiệu Jet, có khối lượng 3,6624 gam; Gói 4 có 14 gói giấy bạc chứa bột màu xám để trong 01 bao thuốc lá hiệu Jet, có tổng khối lượng 0,9613 gam và 01 gói ma túy đã được niêm phong, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Phan Tấn Q, Lê Trung H, bên trong có 02 gói nylon chứa bột màu trắng (được quấn băng keo màu đen), có tổng khối lượng 7,2207 gam (mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định); 01 áo khoác tay dài màu xám; 01 quần Jean màu xanh; 01 cuộn băng keo màu đen; 02 sim điện thoại số 8401191124017433WD và số 8984048008829702402; 02 sim điện thoại số 89840509231410084420 và số 89840509231410084404.
Trả lại bị cáo Nguyễn Minh C 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia TA-1174, màu xanh, số Imei 1: 350078310264546, số Imei 2: 350078312264544 (bên trong có 02 sim điện thoại số 8401180550468866GD và số 8401181050493950WD).
Đối với 01 đĩa DVD (chứa file dữ liệu ghi âm, ghi hình quá trình ghi lời khai, hỏi cung Nguyễn Minh C, Hoặc Chấn H) đã được niêm phong, là chứng cứ lưu hồ sơ, nên không đề nghị xử lý.
Lời nói sau cùng, các bị cáo Nguyễn Minh C, Hoặc Chấn H đều nhận thức được hành vi của các bị cáo là sai, là vi phạm pháp luật nên không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử phạt các bị cáo mức án nhẹ nhất để các bị cáo sớm trở về với gia đình, có cơ hội làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt. Tuy nhiên, xét thấy sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng, không gây trở ngại gì đến việc giải quyết vụ án, do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối chiếu lời khai của các bị cáo Nguyễn Minh C, Hoặc Chấn H tại phiên tòa là phù hợp với nhau và phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu; các Kết luận giám định số: 5305/KL-KTHS ngày 08/5/2024 và số: 5318/KL-KTHS ngày 09/5/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh; lời khai của người làm chứng tại Cơ quan điều tra cùng những tài liệu, chứng cứ, lời khai khác có trong hồ sơ, nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Minh C đã phạm tội «Mua bán trái phép chất ma túy», tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; bị cáo Hoặc Chấn H đã phạm tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy», tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 2015).
Bị cáo Hoặc Chấn H đã cất giữ chất ma túy ở thể rắn và thời điểm bắt quả tang (vào lúc 17 giờ ngày 30/4/2024 tại trước nhà số 230 đường B, Phường N, Quận F), đã thu giữ của bị cáo 0,9582 gam ma túy ở thể rắn, loại Heroine (để trong 12 gói giấy bạc cất trong bao thuốc lá hiệu Jet). Ngoài ra, khi khám xét nơi ở của bị cáo tại địa chỉ B3/6A ấp 24, xã VLB, huyện BC, còn thu giữ của bị cáo 6,7512 gam ma túy ở thể rắn, loại Heroine (bị cáo khai toàn bộ số ma túy này của bị cáo cất giữ để dành sử dụng, không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy khác). Và tổng khối lượng Heroine mà bị cáo Hoặc Chấn H cất giữ để sử dụng là 7,7094 gam, do đó Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 truy tố bị cáo về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» thuộc trường hợp «Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam» theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Minh C đã mua bán chất ma túy ở thể rắn, loại Heroine có tổng khối lượng là 13,8643 gam (trong đó, bị cáo đã bán cho Hoặc Chấn H 6,4211 gam). Và việc mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo Nguyễn Minh C diễn ra nhiều lần, trong khoảng thời gian tương đối dài (tính đến ngày bị bắt, bị cáo khai đã bán ma túy cho Hoặc Chấn H 02 lần, mỗi lần 5.000.000 đồng - lời khai này của bị cáo là phù hợp với lời khai của bị cáo Hoặc Chấn H tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa). Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 truy tố bị cáo Nguyễn Minh C về tội «Mua bán trái phép chất ma túy» thuộc các trường hợp «Phạm tội 02 lần trở lên», «Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam» theo quy định tại điểm b, điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Hành vi của các bị cáo Nguyễn Minh C, Hoặc Chấn H không những đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về chế độ độc quyền trong việc quản lý, trao đổi, cất giữ chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an xã hội.
Các bị cáo Nguyễn Minh C, Hoặc Chấn H đều là những người đã trưởng thành. Các bị cáo hoàn toàn có đủ khả năng nhận thức được tác hại của ma túy, nhận thức được hành vi mua bán, cất giữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật, được quy định trong Bộ luật hình sự, nhưng do hám lợi (đối với bị cáo Nguyễn Minh C), để thỏa mãn lối sống không lành mạnh (đối với bị cáo Hoặc Chấn H) và nhất là xem thường pháp luật, nên các bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, do đó các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:
Ngày 18/9/2020, bị cáo Nguyễn Minh C bị Tòa án nhân dân Quận 8 xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội «Mua bán trái phép chất ma túy»; ngày 09/3/2021, bị cáo Hoặc Chấn H bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân xử phạt 02 năm tù về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy». Mặc dù các bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù và thi hành xong phần án phí, nộp phạt của các bản án này, nhưng đều chưa được xóa án tích. Nay, các bị cáo lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý là tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Ngoài ra, các bị cáo Nguyễn Minh C, Hoặc Chấn H đều có nhân thân xấu. Cho thấy tuy đã được cải tạo, giáo dục, các bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, là thể hiện ý thức chấp hành pháp luật không tốt.
Xét hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Minh C, Hoặc Chấn H là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Mặt khác, ma túy nói chung và các chất ma túy ở thể rắn như Heroine nói riêng là chất gây nghiện độc hại, việc sử dụng ma túy đã gây tác hại rất lớn và ảnh hưởng rất xấu đến sức khỏe, làm mất khả năng lao động, học tập của chính người sử dụng và đây cũng chính là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, do đó Hội đồng xét xử thấy cần phạt các bị cáo những mức án thật nghiêm khắc tương xứng, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, nhằm đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và để phòng ngừa chung, góp phần vào công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm trong tình hình hiện nay, nhất là các tội phạm về ma túy. Tuy nhiên, xét các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đều có thái độ thành khẩn khai báo, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo khi lượng hình theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Riêng bị cáo Nguyễn Minh C còn thể hiện sự ăn năn hối cải và khi tội phạm bị phát hiện, bị cáo đã tự nguyện giao nộp lại 2.500.000 đồng (là tiền bị cáo có được từ việc bán gói ma túy cho Hoặc Chấn H vào sáng ngày 30/4/2024), nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Những nhận định trên cũng là căn cứ để chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Về hình phạt bổ sung:
Ngoài hình phạt tù, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Minh C theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 và buộc bị cáo nộp lại 600.000 đồng, là khoản tiền thu lợi từ việc bán ma túy cho Hoặc Chấn H để sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Còn bị cáo Hoặc Chấn H thì theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo phạm tội không vụ lợi, là lao động tự do, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Việc xử lý vật chứng:
Phương tiện mà các bị cáo Nguyễn Minh C, Hoặc Chấn H dùng vào việc phạm tội là 01 chiếc điện thoại di động hiệu Masstel màu xanh, số Imei 1: 301014163925115, số Imei 2: 301014163925123 (thu giữ của bị cáo Hoặc Chấn H); 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia TA-1034 màu xanh, số Imei 1: 352408094138961, số Imei 2: 353407092716968 (thu giữ của bị cáo Nguyễn Minh C), Hội đồng xét xử tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước cùng với 2.500.000 đồng (là tiền bị cáo Nguyễn Minh C có được từ việc bán ma túy cho Hoặc Chấn H) theo quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm a, điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với chiếc xe gắn máy màu đỏ xám đen, biển số 60P7-9685 thu giữ của bị cáo Hoặc Chấn H (bị cáo khai mua từ một người không rõ lai lịch với giá 4.800.000 đồng và xe không có giấy tờ). Theo Kết luận giám định số: 2661/KL-KTHS ngày 27/5/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh (BL152) và Phiếu trả lời xác minh ngày 14/5/2024 của Công an Quận 6 (BL164), chiếc xe này có số máy: VHLFM152FMH-V01124206, số khung: RMNWCHSMN9H0024206 (loại xe hai bánh từ 50-175cm3, nhãn hiệu SYMEN, số loại 110, dung tích 107), do bà Hồ Thị Tùng đứng tên chủ xe. Quá trình điều tra, bà Tùng khai chiếc xe gắn máy biển số 60P7-9685 không phải là xe của bà và bà không có quyền lợi gì đối với chiếc xe này (theo Biên bản ghi lời khai ngày 06/6/2024 - BL129). Như vậy, đã có đủ cơ sở xác định chiếc xe gắn máy biển số 60P7-9685 hiện chưa rõ chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát là giao chiếc xe lại cho Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6 thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 01 (một) năm, nếu hết thời hạn trên mà vẫn không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp của chiếc xe thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 228 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Đối với 04 gói ma túy đã được niêm phong, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn Út L, Lê Trung H. Bên trong: Gói 1 có 12 gói giấy bạc chứa bột màu trắng để trong 01 bao thuốc lá hiệu Jet, có tổng khối lượng 0,8167 gam; Gói 2 có 01 gói nylon chứa bột màu trắng, có khối lượng 1,6201 gam; Gói 3 có 01 gói nylon chứa bột màu trắng để trong 01 bao thuốc lá hiệu Jet, có khối lượng 3,6624 gam; Gói 4 có 14 gói giấy bạc chứa bột màu xám để trong 01 bao thuốc lá hiệu Jet, có tổng khối lượng 0,9613 gam và 01 gói ma túy đã được niêm phong, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Phan Tấn Q, Lê Trung H, bên trong có 02 gói nylon chứa bột màu trắng (được quấn băng keo màu đen), có tổng khối lượng 7,2207 gam (mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định); 01 áo khoác tay dài màu xám; 01 quần Jean màu xanh; 01 cuộn băng keo màu đen; 02 sim điện thoại số 8401191124017433WD và số 8984048008829702402 (trong chiếc điện thoại di động hiệu Masstel màu xanh); 02 sim điện thoại số 89840509231410084420 và số 89840509231410084404 (trong chiếc điện thoại di động hiệu Nokia TA-1034 màu xanh), là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, vật không có giá trị hoặc không sử dụng được, nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia TA-1174, màu xanh, số Imei 1: 350078310264546, số Imei 2: 350078312264544 (bên trong có 02 sim điện thoại số 8401180550468866GD và số 8401181050493950WD) thu giữ của bị cáo Nguyễn Minh C. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị trả lại cho bị cáo vì không đủ căn cứ xác định bị cáo đã hoặc sẽ dùng vào việc phạm tội. Xét đề nghị của Viện kiểm sát là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
(theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 75/PNK ngày 09 tháng 10 năm 2024 của Công an Quận 6; Quyết định chuyển vật chứng số: 107/QĐ-VKS ngày 19 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 6; Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 07 tháng 6 năm 2024 của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn - Chi nhánh Bắc Thành phố Hồ Chí Minh; Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08 tháng 01 năm 2025 giữa Công an Quận 6 và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6)
Đối với 01 đĩa DVD (chứa file dữ liệu ghi âm, ghi hình quá trình ghi lời khai, hỏi cung Nguyễn Minh C, Hoặc Chấn H) đã được niêm phong, do đó Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
Đối với người tên Hữu bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Minh C và người tên Minh cho bị cáo Hoặc Chấn H 14 gói ma túy. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị lúc nào Cơ quan điều tra xác minh làm rõ xử lý sau, do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Đối với những người mua ma túy của bị cáo Nguyễn Minh C (ngoài Hoặc Chấn H), do bị cáo C khai không rõ nhân thân lai lịch, nên không có cơ sở điều tra làm rõ, do đó Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
Đối với bà Phạm Thị Ngọc D, chủ Hộ kinh doanh nhà nghỉ TB, nhưng bà D không trực tiếp quản lý Hộ kinh doanh mà giao cho bà Lê Thị Nguyệt M (con bà D) trực tiếp quản lý. Quá trình điều tra xác định bà M không liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Nguyễn Minh C, nên không xem xét trách nhiệm pháp lý, do đó Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Minh C, Hoặc Chấn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b, điểm i khoản 2 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh C 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội «Mua bán trái phép chất ma túy». Thời hạn tù tính từ ngày 04/5/2024.
- Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Hoặc Chấn H (Phí, Hoặc Chắn Huy) 07 (bảy) năm tù về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy». Thời hạn tù tính từ ngày 30/4/2024.
- Căn cứ khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Buộc bị cáo Nguyễn Minh C nộp phạt 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
- Căn cứ điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 228 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo Nguyễn Minh C nộp lại 600.000 (sáu trăm ngàn) đồng, là khoản tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội để sung vào ngân sách nhà nước.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Masstel, màu xanh, số Imei 1: 301014163925115, số Imei 2: 301014163925123; 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Nokia TA-1034, màu xanh, số Imei 1: 352408094138961, số Imei 2: 353407092716968 và 2.500.000 (hai triệu năm trăm ngàn) đồng.
Giao Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh 01 (một) chiếc xe gắn máy màu đỏ đen xám, biển số 60P7-9685, số máy: VHLFM152FMH-V01124206, số khung: RMNWCHSMN9H0024206 (loại xe hai bánh từ 50 - 175cm3, nhãn hiệu SYMEN, số loại 110, dung tích 107) để thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 01 (một) năm. Nếu hết thời hạn trên mà vẫn không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp của chiếc xe này thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- Căn cứ điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy: 04 (bốn) gói ma túy đã được niêm phong, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn Út L, Lê Trung H. Bên trong: Gói 1 có 12 (mười hai) gói giấy bạc chứa bột màu trắng để trong 01 (một) bao thuốc lá hiệu Jet, có tổng khối lượng 0,8167 (không phẩy tám một sáu bảy) gam; Gói 2 có 01 (một) gói nylon chứa bột màu trắng, có khối lượng 1,6201 (một phẩy sáu hai không một) gam; Gói 3 có 01 (một) gói nylon chứa bột màu trắng để trong 01 (một) bao thuốc lá hiệu Jet, có khối lượng 3,6624 (ba phẩy sáu sáu hai bốn) gam; Gói 4 có 14 (mười bốn) gói giấy bạc chứa bột màu xám để trong 01 (một) bao thuốc lá hiệu Jet, có tổng khối lượng 0,9613 (không phẩy chín sáu một ba) gam và 01 (một) gói ma túy đã được niêm phong, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Phan Tấn Q, Lê Trung H, bên trong có 02 (hai) gói giấy bạc chứa bột màu trắng (được quấn băng keo màu đen), có tổng khối lượng 7,2207 (bảy phẩy hai hai không bảy) gam; 01 (một) áo khoác tay dài màu xám; 01 (một) quần Jean màu xanh; 01 (một) cuộn băng keo màu đen; 02 (hai) sim điện thoại số 8401191124017433WD và số 8984048008829702402; 02 (hai) sim điện thoại số 89840509231410084420 và số 89840509231410084404.
- Căn cứ khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại bị cáo Nguyễn Minh C 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Nokia TA-1174, màu xanh, số Imei 1: 350078310264546, số Imei 2: 350078312264544, bên trong có 02 (hai) sim điện thoại số 8401180550468866GD và số 8401181050493950WD.
(theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 07 tháng 6 năm 2024 của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn - Chi nhánh Bắc Thành phố Hồ Chí Minh; Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08 tháng 01 năm 2025 giữa Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh)
- Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Các bị cáo Nguyễn Minh C, Hoặc Chấn H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - VKSND Quận 6; - Công an Quận 6; - Chi cục THADS Quận 6; - TAND Tp. Hồ Chí Minh; - VKSND Tp. Hồ Chí Minh; - Công an Tp. Hồ Chí Minh (Phòng PV06); - Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh; - Các bị cáo; - Người có QLNVLQ đến vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thùy Liên |