- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ANH SƠN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2025/HS–ST Ngày 16 – 01 – 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ANH SƠN – TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hồng Lợi. Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Huyền, Ông Phạm Minh Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Anh Sơn tham gia phiên tòa: Bà H Thị Phương Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 49/2025/TLST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Võ Văn L - sinh ngày 07 tháng 3 năm 1988 tại huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An. Tên gọi khác: không; Nơi cư trú: t7, xã T S, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn H, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1962; Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1997 (chưa đăng ký kết hôn) và 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2018, con nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 08/10/2024 đến ngày 14/10/2024 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Trần Văn Th - sinh ngày 26 tháng 3 năm 1991 tại huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An. Tên gọi khác: không; Nơi cư trú: t dp1, thị trấn Anh Sơn (nay là thị trấn Kim Nhan), huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Đ, sinh năm 1970 và bà Trần Thị T, sinh năm 1971; Vợ đầu Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm 1992 (đã ly hôn) và có 01 người con sinh năm 2013, vợ hai: Nguyễn Thị Hà M, sinh năm 1990 và có 01 người con sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 08/10/2024 đến ngày 14/10/2024 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3. Trần Văn H - sinh ngày 04 tháng 3 năm 1999 tại huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An. Tên gọi khác: không; Nơi cư trú: t6, xã H S, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Hải (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1969; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: ngày 17/01/2017 bị Công an huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, chấp hành xong ngày 28/4/2017. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/10/2024 đến ngày 14/10/2024 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
4. Nguyễn Văn Q - sinh ngày 24 tháng 7 năm 1994 tại huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An. Tên gọi khác: không; Nơi cư trú: t3, xã L S, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Tĩnh, sinh năm 1967 và bà Võ Thị A, sinh năm 1971; Vợ: H Thị Cẩm A, sinh năm 1994 và 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: ngày 26/02/2014 bị TAND huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An xử phạt 5.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” ngày 20/6/2014 chấp hành xong, ngày 31/8/2018 bị TAND huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng về tội “Đánh bạc”, chấp hành xong ngày 31/02/2021; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 08/10/2024 đến ngày 14/10/2024 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
5. Nguyễn Văn Ng - sinh ngày 23 tháng 02 năm 1995 tại huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An. Tên gọi khác: không; Nơi cư trú: thôn 4, xã H S, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Quý, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1970; Vợ: Lê Thị Ng, sinh năm 1997 và 01 người con sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 08/10/2024 đến ngày 14/10/2024 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1976.
Địa chỉ: Thôn 2, xã Tào Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị Hà M, sinh năm 1990.
Địa chỉ: T dp1, thị trấn Anh Sơn (nay là thị trấn Kim Nhan), huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào chiều ngày 07 tháng 10 năm 2024 khi Trần Văn Th gặp Võ Văn L, Th nói với L: “túi có rảnh không mần hồi Binh?” (ý là đánh bạc bằng hình thức đánh bài Mậu Binh), thì L đồng ý. Đến tối ngày 07/10/2024, sau khi cùng nhau hát Karaoke tại Q “Sao đêm” (thuộc T dp1, thị trấn Anh Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An) thì L cùng với Trần Văn H, Nguyễn Văn Ng ngồi xe ô tô bán tải BKS 37C-142.20 do Nguyễn Văn Q điều khiển di chuyển ra Quốc lộ 7A để đi về. Trên xe ô tô, L nói: “Qua Q Th Đ ta mần hồi Binh” (ý nói rủ mọi người đi đánh bạc bằng hình thức đánh bài Mậu Binh) thì cả nhóm đồng ý. Khoảng 23 giờ 45 phút, ngày 07/10/2024, Q điều khiển xe ô tô đến trước cửa Q Bi-a “Th 91” (địa chỉ: T dp1, thị trấn Anh Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An). L xuống gõ cửa gọi Trần Văn Th mở cửa. Th ra mở cửa thì L, H, Q, Nghĩa đi vào trong Q bi-a và đi lại bàn phía trong cùng để ngồi đánh bạc. Đến khoảng 00 giờ, ngày 08/10/2024, Th lấy ra 01 bộ bài Tulơkhơ mặt trái màu xanh có sẵn ở trên bàn Q bi-a xuống để đánh bạc. L, H, Q và Th ngồi thành vòng tròn trên nền nhà ở gần bàn bi -a, theo thứ tự từ bên phải của Th là Q, H, L; còn Nghĩa ngồi phía sau H để xem đánh bạc. Đánh được khoảng hơn một tiếng đồng hồ, Q thua hết tiền nên về trước. L, H và Th tiếp tục đánh bạc, được một lúc thì H thua hết tiền nên Nghĩa đã cho H vay số tiền 4.000.000 đồng để đánh bạc với thỏa thuận lời lỗ cả hai sẽ chia đôi.
Hình thức đánh bài “Mậu binh”, thắng thua bằng tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam. Các đối tượng quy ước cách đánh như sau:
Sử dụng 01 bộ bài Tú lơ khơ gồm 52 quân, bài từ thấp đến cao theo thứ tự từ 2,3,4,5,6,7,8,9,10,J,Q,K,A để đánh, mỗi người sẽ được chia 13 lá bài của mình để xếp thành 03 chi; 05 quân cho chi đầu, 05 quân cho chi giữa và 03 quân cho chi cuối, sau khi chia bài xong thì mỗi người lật ngửa ván bài ra để so sánh bài với nhau và xét theo thứ tự cao thấp trong từng chi của ván bài. Đối với “Binh” tới trắng gọi là Mậu Binh (gồm sảnh rồng, 3 thùng, 12 con đồng màu, sáu đôi) thì người chơi thắng trực tiếp mà không cần so từng chi. Với mỗi ván bài thắng (có bài lớn nhất theo quy ước) người thắng sẽ nhận được 100.000 đồng từ những người thua.
Đến 4 giờ 30 phút, ngày 08 tháng 10 năm 2024, khi L, H và Th đang đánh bạc thì bị Công an huyện Anh Sơn kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ 01 bộ bài Tulokho màu xanh và tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 61.000.000 đồng.
Đối với Q, sau khi biết L, H, Th, Nghĩa bị bắt, biết hành vi của mình trước đó tham gia đánh bạc là vi phạm pháp luật, nên khoảng 8 giờ ngày 08/10/2024, Q đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Anh Sơn đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội và giao nộp xe ô tô BKS 37C-14220.
Quá trình điều tra, căn cứ các tài liệu chứng cứ thu thập được có căn cứ xác định quá trình các đối tượng trong vụ án đánh bạc có 02 giai đoạn cụ thể như sau:
Giai đoạn thứ nhất: Có 4 đối tượng tham gia đánh bạc gồm Q, H, Th và L, tổng số tiền sử dụng để đánh bạc tại thời điểm này chứng minh được là 57.000.000 đồng. Cụ thể: Th sử dụng số tiền 19.200.000 đồng để đánh bạc, trong đó 10.000.000 đồng để ở túi quần bên phải, 9.200.000 đồng để ở vị trí ngồi của Th. Q sử dụng số tiền 3.800.000 đồng để đánh bạc để ở vị trí ngồi của Q. H sử dụng số tiền 4.000.000 đồng để đánh bạc để ở vị trí ngồi của H. L sử dụng số tiền 30.000.000 đồng để đánh bạc, trong đó ở túi quần trước bên trái 21.100.000 đồng và túi quần bên phải 9.900.000 đồng. Sau khi Q thua hết 3.800.000 đồng thì Th mở cửa cho Q ra về.
Giai đoạn thứ hai: Có 3 đối tượng tham gia đánh bạc gồm H, Th và L, trong lúc chơi khi H hết tiền Nghĩa đã cho H vay số tiền 4.000.000 đồng để đánh bạc với thỏa thuận lời lỗ sẽ chia đôi. Như vậy tổng số tiền sử dụng để đánh bạc tại thời điểm này chứng minh được là 61.000.000 đồng (Gồm tổng số tiền ở giai đoạn thứ nhất 57.000.000 đồng và số tiền 4.000.000 đồng Nghĩa cho H vay để tiếp tục đánh bạc), đến thời điểm bị bắt, số tiền sử dụng đánh bạc và số tiền thắng thua cụ thể của các đối tượng như sau:
- Võ Văn L sử dụng 30.000.000 đồng vào mục đích để đánh bạc. Tại thời điểm cơ quan Công an phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ số tiền 41.100.000 đồng, lúc này L thắng số tiền là 11.100.000 đồng.
- Trần Văn Th sử dụng 19.200.000 đồng vào mục đích để đánh bạc. Tại thời điểm Cơ quan Công an phát hiện lập biên bắt người phạm tội quả tang đã thu giữ tại vị trí ngồi của Trần Văn Th số tiền là 10.200.000 đồng, lúc này Th đã thua số tiền là 9.000.000 đồng.
- Trần Văn H sử dụng 8.000.000 đồng vào mục đích để đánh bạc (tính cả số tiền 4.000.000 đồng mà Nguyễn Văn Ng cho H vay). Tại thời điểm cơ quan Công an phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ tại vị trí ngồi của Trần Văn H 9.700.000 đồng, lúc này H đang thắng số tiền là 1.700.000 đồng.
- Nguyễn Văn Q sử dụng 3.800.000 đồng vào mục đích để đánh bạc. Trong lúc chơi Q đã thua hết toàn bộ số tiền 3.800.000 đồng và đã nghỉ ra về.
Như vậy, tổng số tiền mà bị cáo L, Th, H, Q sử dụng vào mục đích đánh bạc ở giai đoạn thứ nhất là 57.000.000 đồng. Tổng số tiền các bị cáo Th, H, L, Nghĩa cùng sử dụng vào mục đích đánh bạc ở giai đoạn thứ hai là 61.000.000 đồng.
+ Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:
- Thu giữ tại chiếu bạc 01 bộ bài Tulokho, gồm có 52 quân bài từ quân A đến quân K, có một mặt có màu xanh. Vật chứng hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Công an huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An.
- Đối với số tiền 61.000.000 đồng các bị cáo sử dụng để đánh bạc, bị thu giữ hiện đang được niêm phong bảo quản tại Kho bạc Nhà nước huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An.
- 01 chiếc xe ô tô bán tải nhãn hiệu TOYOTA HILUX, mang Biển kiểm soát: 37C-142.20, có số máy 1 KDU 734384, số khung 29 G902574004 quá trình điều tra xác định chị Nguyễn Thị H là chủ sở hữu hợp pháp, xét không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Anh Sơn đã trả lại cho chị Hương.
Cáo trạng số 01/CT-VKS-AS ngày 24/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Anh Sơn đã truy tố các bị cáo Võ Văn L, Trần Văn Th, Trần Văn H, Nguyễn Văn Ng, Nguyễn Văn Q về tội "Đánh bạc" theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố. Tỏ ra ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Anh Sơn giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử đề nghị: giữ nguyên việc truy tố bị cáo Võ Văn L, Trần Văn Th, Trần Văn H, Nguyễn Văn Ng, Nguyễn Văn Q phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật hình sự; Đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù; Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Võ Văn L 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm; Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn Th từ 03 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thửa thách là 05 năm; Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn H 03 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thửa thách là 05 năm; Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ng 03 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thửa thách là 05 năm; miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho các bị cáo; tịch thu tiêu hủy vật chứng của vụ án; tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc; các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh L tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều thực hiện đúng pháp luật.
Về nội dung: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Võ Văn L, Trần Văn Th, Trần Văn H, Nguyễn Văn Ng và Nguyễn Văn Q đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để kết L: vào khoảng 04 giờ 30 phút ngày 08/10/2024 tại Q Bi-a “Th 91” thuộc T dp1, thị trấn Anh Sơn huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An, khi Võ Văn L, Trần Văn Th, Trần Văn H đang đánh bạc trái phép bằng hình thức “Mậu Binh” được thua bằng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam, thì bị tổ công tác công an huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 61.000.000 đồng. Quá trình điều tra xác định được trước đó vào khoảng từ 0 giờ 00 phút đến 01 giờ 00 phút cùng ngày, Q đã cùng L, Th, và H đánh bạc với tổng số tiền là 57.000.000 đồng. Đối với Nguyễn Văn Ng mặc dù không trực tiếp tham gia đánh bạc nhưng đã có hành vi cho Trần Văn H vay số tiền 4.000.000 đồng để đánh bạc với thỏa thuận lời lỗ chia đôi, do đó hành vi của Nguyễn Văn Ng đồng phạm với Võ Văn L, Trần Văn Th, Trần Văn H về tội Đánh bạc với số tiền 61.000.000 đồng. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý. Như vậy Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết tội Võ Văn L, Trần Văn Th, Trần Văn H, Nguyễn Văn Ng và Nguyễn Văn Q phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 2 Điều 321 của Bộ luật hình sự như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Anh Sơn là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất vụ án: Đây là vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng mà trực tiếp là nếp sống văn minh, làm ảnh hưởng xấu đến công tác đấu tranh phòng chống các tệ nạn xã hội, trong đó có tệ nạn đánh bạc và là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác nên cần phải xử phạt các bị cáo để có tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét về vai trò, mức độ phạm tội và nhân thân của các bị cáo:
Về vai trò của các bị cáo: Các bị cáo Võ Văn L, Trần Văn Th, Trần Văn H, Nguyễn Văn Ng và Nguyễn Văn Q phạm tội là đồng phạm giản đơn không có sự bàn bạc hay phân công thực hiện tội phạm. Trong vụ án này các bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc một cách bột phát không có sự bàn bạc cấu kết chặt chẽ, không có sự phân công vai trò vị trí của từng người khi chơi bạc. Quá trình nảy sinh ý định phạm tội không có bị cáo nào khởi xướng mà tất cả các bị cáo đều thống nhất với nhau nên có vai trò như nhau, tuy nhiên khi quyết định hình phạt cần xem xét về nhân thân cũng như số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc.
Về các tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa xác định tất cả các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo Võ Văn L có ông ngoại là Nguyễn Kim Tảo được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất.
Bị cáo Trần Văn Th có ông nội là Trần Hữu Thắng được nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất, bà Nội là Lưu Thị Hồng nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì, trong cơn bão Yagi vào tháng 9/2024 bị cáo có tham gia từ thiện và được UBND xã Chiêu Lưu, huyện Kỳ Sơn xác nhận.
Bị cáo Trần Văn H có ông ngoại là ông Nguyễn Kim Tiến được Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An tặng Bằng khen,bà ngoại là bà Bùi Thị Tiến được Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An tặng Bằng khen vì đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống pháp xâm lược.
Bị cáo Nguyễn Văn Ng có ông ngoại là Nguyễn Đức Cường người có công với cách mạng, là thương binh hạng 4/4.
Bị cáo Nguyễn Văn Q sau khi phạm tội đã ra đầu thú, bà ngoại là Trần Thị Hồng được nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống mỹ hạng nhất, ông ngoại là Võ Văn Lực được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba.
Nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo Nguyễn Văn Q có nhân thân xấu: ngày 26/02/2014 bị TAND huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An xử phạt 5.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” ngày 20/6/2014 chấp hành xong, ngày 31/8/2018 bị TAND huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng về tội “Đánh bạc”, chấp hành xong ngày 31/02/2021. Bị cáo Trần Văn H ngày 17/01/2017 bị Công an huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, chấp hành xong ngày 28/4/2017.
Như vậy, căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy các bị cáo L, Th, H, Nghĩa không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nơi cư trú rõ ràng nên chưa cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà để các bị cáo cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ để răn đe giáo dục các bị cáo đồng thời thể hiện tính nhân đạo của pháp luật. Đối với bị cáo Q mặc dầu giữ vai trò thứ yếu treong vụ án, số tiền đánh bạc ít nhưng bị cáo là người có nhân thân xấu đã 02 lần bị Tòa án đưa ra xét xử nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học rèn luyện tu dưỡng bản thân nay lại phạm tội, vì vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo lao động cải tạo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự ngoài hình phạt chính các bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là hình phạt tiền nhưng xét thấy các bị cáo Võ Văn L, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn Ng hiện đang sống chung với bố mẹ đẻ, tài sản riêng không có, còn các bị cáo Trần Văn Th, Trần Văn H đều là người có hoàn cảnh gia đình thuộc diện khó khăn, tài sản không có nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.
. Về xử lý vật chứng:
Đối với 52 quân bài Tulokho là những vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với số tiền 61.000.000 đồng các bị cáo dùng để đánh bạc cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
Đối với chị Nguyễn Thị H là chủ sở hữu chiếc xe ô tô bán tải nhãn hiệu TOYOTA HILUX, mang Biển kiểm soát: 37C-142.20 mà Nguyễn Văn Q sử dụng chở các đối tượng đi đánh bạc. Quá trình điều tra xác định việc Q dùng xe chở các bị cáo chị Hương không biết, do vậy không có căn cứ để xử lý trách nhiệm đối với chị Hương.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 08/10/2024 đến ngày 14/10/2024.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Võ Văn L phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Võ Văn L 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 16/01/2025.
Giao bị cáo Võ Văn L cho chính quyền địa phương UBND xã T S, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo theo quy định tại Điều 94 của Luật thi hành án hình sự và Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Trần Văn Th phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Trần Văn Th 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 16/01/2025.
Giao bị cáo Trần Văn Th cho chính quyền địa phương UBND thị trấn Kim Nhan, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo theo quy định tại Điều 94 của Luật thi hành án hình sự và Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Trần Văn H và Nguyễn Văn Ng phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Trần Văn H 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 16/01/2025.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ng 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 16/01/2025.
Giao các bị cáo Trần Văn H và Nguyễn Văn Ng cho chính quyền địa phương UBND xã H S, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo theo quy định tại Điều 94 của Luật thi hành án hình sự và Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về vật chứng: Áp dụng điểm b Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy: 01 bộ bài Tú Lơ khơ 52 quân bài từ quân A đến quân K có một mặt màu xanh.
Toàn bộ vật chứng nêu trên có đặc điểm được ghi tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/12/2024 giữa Công an huyện Anh Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An.
Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 61.000.000 đồng (sáu mươi mốt triệu đồng) các bị cáo dùng vào việc đánh bạc. Toàn bộ số tiền trên đang được niêm phong gửi tại Kho bạc nhà nước huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An có đặc điểm theo biên bản giao nhận tài sản số 14/2024/BBBG-CAHAS ngày 15/10/2024 giữa cơ quan Công an huyện Anh Sơn và Kho bạc nhà nước huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc Võ Văn L, Trần Văn Th, Trần Văn H, Nguyễn Văn Q và Nguyễn Văn Ng mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện Anh Sơn;
- VKSND tỉnh Nghệ An;
- Trại tạm giam CA tỉnh Nghệ An;
- CQĐT Công an huyện Anh Sơn;
- CQTHAHS huyện Anh Sơn;
Phan Hồng Lợi
- CCTHADS huyện Anh Sơn;
- Lưu HS, VP.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
Phan Hồng Lợi Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện Anh Sơn;
- VKSND tỉnh Nghệ An;
- Trại tạm giam CA tỉnh Nghệ An;
- CQĐT Công an huyện Anh Sơn;
- CQTHAHS huyện Anh Sơn;
Phan Hồng Lợi
- CCTHADS huyện Anh Sơn;
- Lưu HS, VP.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Anh Sơn; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Trại tạm giam CA tỉnh Nghệ An; - CQĐT Công an huyện Anh Sơn; - CQTHAHS huyện Anh Sơn; - CCTHADS huyện Anh Sơn; - Lưu HS, VP. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Các Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Hồng Lợi Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phan Hồng Lợi |