- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| _________ Bản án số: 01/2025/HS-ST Ngày 21/07/2025 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Cầm Ngọc Thương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Việt và ông Cầm Văn Sơn.
- Thư ký phiên toà: Ông Hà Văn Yến, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn(Nay là khu vực 4 – Sơn La tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thành Vinh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 07 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 95/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 06 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 07 năm 2025 đối với bị cáo:
Lò Văn T, sinh ngày 05/10/2005, tại huyện M, tỉnh Sơn La; nơi đăng ký HKTT và nơi ở: Bản H, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La (Nay là Bản H, xã M, tỉnh Sơn La); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Lò Văn T, sinh năm 1970; con bà Lò Thị C, sinh năm 1975; bị cáo chưa có vợ, con. Tiền sự: Không; Tiền án: không.
Nhân thân: Ngày 21/11/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La tuyên phạt 14 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 bị cáo đã chấp hành xong ngày 30/09/2023.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/03/2025 đến nay có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 30/3/2025, T đi bộ từ nhà ở bản H, xã C, huyện M đến bản N, xã C, huyện M tìm mua ma túy sử dụng. Khi đi đến khu vực bản N, T gặp và mua được của một người phụ nữ dân tộc Mông (không biết tên, địa chỉ) 01 gói Heroine được gói bằng nilon màu trắng với giá 200.000 đồng. Mua được Heroine, Thảo cất giấu vào túi quần trước bên phải đang mặc rồi đi bộ về nhà. Khi gần đến nhà, T đi nhờ xe máy của một người đàn ông (không biết họ tên, địa chỉ) đến nhà Điêu Thị Mai L, sinh năm 2008, tại bản Q, xã C, huyện M (là bạn gái của T) chơi. Đến khoảng 11 giờ 10 phút ngày 31/3/2025, T đi bộ tìm nơi sử dụng ma túy. Khi đến khu vực đường liên bản Q, xã C, huyện M thì bị Tổ công tác công an xã Cò phát hiện, T tự giác giao nộp gói ma túy cho tổ công tác. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lò Văn T và thu giữ niêm phong gói vật chứng.
Cùng ngày 01/4/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La đã phối hợp với Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Sơn La thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, xác định số lượng, khối lượng số ma túy thu giữ của Lò Văn T:
Tổng khối lượng chất bột nén màu trắng là 0,19 gam, lấy toàn bộ làm mẫu ký hiệu M trưng cầu giám định.
Tại kết luận giám định số: 429/KL- KTHS ngày 01/04/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu M là ma túy, loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là M = 0,19 gam; Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,19 gam, loại Heroine.
Bản cáo trạng số: 55/CT-VKSMS ngày 24 tháng 06 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn (Nay là Khu vực 4 – Sơn La) truy tố bị cáo Lò Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố Lò Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Tuyên bố Lò Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Lò Văn T từ 18 tháng đến 24 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Đối với 01 phong bì thư do Công an tỉnh Sơn La phát hành, đã được niêm phong dán kín, một mặt phong bì thư ghi chữ : “Vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu và 01 mảnh giấy nilon màu trắng gói ma túy ban đầu thuộc vụ Lò Văn T có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày 31/03/2025 tại xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La” là tài liệu có giá trị chứng minh tội phạm cần lưu theo hồ sơ vụ án.
3. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo có lời nói sau cùng xin được giảm nhẹ mức hình phạt và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Công an xã Cò Nòi, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Lò Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan Điều tra. Số ma túy bị thu giữ có nguồn gốc do bị cáo mua được của một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết với giá 200.000 đồng, mục đích sử dụng cho bản thân.
Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an xã Cò Nòi lập vào hồi 11 giờ 35 phút, ngày 31/03/2025; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong, cân tịnh, trích rút mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng; bản Kết luận giám định số 429 ngày 01/04/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận là ma túy, loại Heroine. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ của cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ.
Về khung hình phạt áp dụng: Bị cáo tàng trữ 0,19 gam Heroine đích để sử dụng, do đó đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 86/2025/QH15 năm 2025 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2025, có mức hình phạt tù từ 03 năm đến 05 năm. Do đó, áp dụng quy định có lợi cho bị cáo thì áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã xâm phạm chế độ, chính sách độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội tại địa phương. Do vậy, cần quyết định hình phạt nghiêm khắc và phù hợp nhằm răn đe, giáo dục bị cáo, phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi áp dụng hình phạt cần xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, theo Điều 52 Bộ luật Hình sự. Ngày 21/11/2022, Lò Văn T bị Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La tuyên phạt 14 tháng tù về Tội tàng trữ trái phép chât ma túy, quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Khi T bị kết án chưa đủ 18 tuổi (16 tuổi 10 tháng 25 ngày), do đó được coi là không có án tích theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện chất ma tuý và 01 lần bị xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo sống chung với bố mẹ không có tài sản, không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.
Về vật chứng, xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì thư do Công an tỉnh Sơn La phát hành, đã được niêm phong dán kín, một mặt phong bì thư ghi chữ : “Vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu và 01 mảnh giấy nilon màu trắng gói ma túy ban đầu thuộc vụ Lò Văn T có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày 31/03/2025 tại xã C, huyện Ma, tỉnh Sơn La” là tài liệu có giá trị chứng minh tội phạm cần lưu theo hồ sơ vụ án.
Về các vấn đề khác: Về nguồn gốc số ma tuý bị thu giữ: Lò Văn T khai mua của một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết ở khu vực bản N, xã C, huyện M vào ngày 31/03/2025, T không biết họ tên, địa chỉ, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La không có căn cứ mở rộng điều tra.
Đối với Điêu Thị Mai L quá trình điều tra xác định việc T cất giấu gói ma túy để để sử dụng thì L không biết. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La không đặt vấn đề xử lý đối với L.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Pháp luật.
8 Thời hạn tạm giam của bị cáo còn dưới 45 ngày do đó Hội đồng xét xử ra Quyết định tạm giam đối với bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Lò Văn T 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 31/3/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Đối với 01 phong bì thư do Công an tỉnh Sơn La phát hành, đã được niêm phong dán kín, một mặt phong bì thư ghi chữ : “Vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu và 01 mảnh giấy nilon màu trắng gói ma túy ban đầu thuộc vụ Lò Văn T có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày 31/03/2025 tại xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La” là tài liệu có giá trị chứng minh tội phạm cần lưu theo hồ sơ vụ án.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lò Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - Sở tư pháp tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - VKSND Khu vực 4 – Sơn La; - Công an tỉnh Sơn La; - THAHS; - Trại giam; - THA dân sự tỉnh Sơn La; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Cầm Ngọc Thƣơng |