- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Anh Quân phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4-HUẾ THÀNH PHỐ HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2025/HS-ST Ngày: 09-7-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4-HUẾ, THÀNH PHỐ HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Hoàng Ái Thuỵ và ông Nguyễn Thế Lâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Ngọc Trinh - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4-Huế, thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Hồ Đức Chính- Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4-Huế, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai trực tiếp vụ án hình sự thụ lý số: 42/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:
Võ Anh Q; Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh ngày 20/12/1990. Nơi sinh: thành phố Hồ Chí Minh. Nơi thường trú: 117 đường số A, khu phố C, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh nay là phường B, thành phố Hồ Chí Minh. Chỗ ở hiện nay: tổ dân phố G, thị trấn P, huyện P, thành phố H nay là xã P, thành phố H; Căn cước công dân số: 079090034747, cấp ngày: 07/4/2023, nơi cấp: Cục C1 về TTXH, Bộ C2; Quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Cơ khí; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: Lớp 7/12; con ông Võ Văn L (đã chết) và bà Dương Thị Mỹ P, sinh năm 1966; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; vợ, con: Chưa có.
Quá trình nhân thân: Lúc nhỏ sống cùng gia đình tại phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh, học đến lớp 07/12 thì nghỉ học ở nhà phụ giúp bố mẹ. Từ năm 2024 đến ngày 02/02/2025 chuyển ra sinh sống tại tổ dân phố G, xã P, thành phố H.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ sau đó chuyển tạm giam từ ngày 02/02/2025 cho đến nay, có mặt tại phiên toà.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Hoàng Văn C, sinh năm: 1956. Trú tại: tổ dân phố G, thị trấn P, huyện P, thành phố H nay là xã P, thành phố H. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người chứng kiến:
+ Ông Lê Nguyên B, sinh năm: 1976; Địa chỉ: tổ dân phố E, thị trấn P, huyện P, thành phố H nay là xã P, thành phố H. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 31/01/2025, Võ Anh Q liên hệ qua mạng xã hội Zalo với một người tên “T” (không rõ lai lịch, địa chỉ) để đặt mua 9.200.000 đồng ma túy tổng hợp dạng đá và yêu cầu gửi ra địa chỉ tại chợ C3, thị trấn P, huyện P, thành phố H (nay là xã P, thành phố H) thì được “Tý” đồng ý. Thỏa thuận xong, Q chuyển khoản 02 lần với tổng số tiền 8.600.000 đồng vào tài khoản VQRQABGJP7688 TRAN TRONG TU của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 (M) cho “Tý”, còn lại 600.000 đồng Q xin “Tý” cho nợ. Nhận được tiền, “Tý” giấu ma túy trong ổ khóa sắt và để trong một hộp bưu phẩm màu đen, bên ngoài có ghi “Công trình Huế, Chợ C. 0902320665 Quân T1 nắm cửa A01” gửi cho Q qua nhà xe N1. Tối ngày 01/02/2025, nhà xe Năm L1 liên hệ Q đến trước chợ C3, xã P, thành phố H để nhận hộp bưu phẩm màu đen có đặc điểm nêu trên. Nhận được hộp bưu phẩm này, Q để trước giỏ xe máy điện rồi điều khiển về nhà. Đến 00 giờ 32 phút ngày 02 tháng 02 năm 2025, khi Q đang đi trên đường A, xã P, thành phố H thì bị lực lượng Công an thị trấn P nay là xã P tuần tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số ma túy trên từ Võ Anh Q.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Võ Anh Q tại nhà bà Cái Thị H (sinh năm 1958) ở tổ dân phố G, xã P, thành phố H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H phát hiện thu giữ một gói ni lông màu trắng, bên trong chứa các tinh thể rắn màu trắng, được để dưới góc giường trong phòng ngủ của Võ Anh Q, ngoài ra không thu giữ gì thêm. Toàn bộ số ma túy trên được Q tàng trữ nhằm mục đích để sử dụng.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) hộp bưu phẩm màu đen, bên ngoài có ghi “Công trình Huế, Chợ C. 0902320664 Quân Tay nắm cửa A01”, bên trong có chứa 01 ổ khóa, trong ổ khóa có chứa 02 (hai) gói ni lông bên trong đều chứa tinh thể chất rắn màu trắng;
- 01 (một) gói ni lông màu trắng (bên trong chứa các tinh thể rắn màu trắng) được niêm phong bằng phong bì, bên ngoài có 02 chữ ký ghi họ tên ĐTV Nguyễn Hữu T2, 02 chữ ký ghi họ tên Võ Anh Q, 02 dấu tròn đỏ của Công an thị trấn P. Ký hiệu A1.
- 01 (một) chiếc xe máy điện màu đen không có biển số;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO F11 pro màu đen tím có số EMEI: 863980045453213, kèm sim số 0902320664;
* Tại bản Kết luận giám định số 83/KL-KTHS ngày 06/02/2025 của Phòng K Công an thành phố H kết luận:
- Mẫu tinh thể rắn màu trắng gửi giám định (nêu tại mục 1.1, phần II) có tổng khối lượng là 19,6074g (mười chín phẩy sáu không bảy bốn gam), là ma túy, loại Methamphetamine.
- Mẫu tinh thể rắn màu trắng gửi giám định (nêu tại mục 1.2, phần II) có khối lượng là 1,9584g (một phẩy chín năm tám bốn gam), là ma túy, loại Methamphetamine.
Sau khi giám định, Cơ quan giám định hoàn lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H tiếp tục tạm giữ gồm:
+ 19,5074g (Mười chín phẩy năm không bảy bốn gam) mẫu tinh thể rắn mẫu trắng (nêu tại mục 1.1, phần II);
+ 1,8584g (Một phẩy tám năm tám bốn gam) mẫu tinh thể rắn màu trắng (nêu tại mục 1.2, phần II);
+ Các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định.
Tại bản cáo trạng số 45/CT-VKSPL ngày 16/6/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4-Huế, thành phố H) truy tố bị cáo: Võ Anh Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4-Huế giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình sự: Đề nghị áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Đề nghị xử phạt bị cáo Võ Anh Q từ: 06 năm 06 tháng đến 07 năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 02/02/2025.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng.
Về xử lý vật chứng:
+ Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy đã được niêm phong bằng giấy trắng và băng keo trong, bên ngoài có 02 (hai) chữ ký của Giám định viên Trần N, 02 (hai) chữ ký của Điều tra viên Nguyễn Hữu T2 và 02 (hai) dấu tròn đỏ của Phòng K Công an thành phố H, phía trên có dòng chữ “H1 mẫu vật vụ Võ Anh Q, bắt ngày 02/02/2025”; 01 (một) hộp bưu phẩm màu đen, bên ngoài có ghi “Công trình Huế, Chợ cầu 2. 0902320664 Quân T1 nắm cửa A01”; 01 (một) dụng cụ bằng kim loại dùng để lắp tạo thành ổ khoá dạng tay nắm cửa.
+ Đề nghị tịch thu, sung công quỹ nhà nước đối với: 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO F11 pro, màu đen tím, có số IMEI: 863980045453213, kèm sim số 0902320664;
+ Đề nghị trả lại: 01 (một) xe máy điện màu đen không có biển số (xe dán nhãn VIET NHAT; xe cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong xe) cho ông Hoàng Văn C.
Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét, khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được kiểm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4-Huế, thành phố H), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, khẳng định các hành vi và quyết định tố tụng đã được thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Võ Anh Q đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, vật chứng thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình điều tra có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận:
Vào lúc 00 giờ 32 phút, ngày 02/02/2025, tại đường A thuộc địa phận thị trấn P, huyện P, thành phố H (nay là xã P, thành phố H), Võ Anh Q đang có hành vi tàng trữ trái phép 19,6074g (mười chín phẩy sáu không bảy bốn gam) và khám xét nơi ở phát hiện thêm 1,9584g (Một phẩy chín năm tám bốn gam), tổng cộng khối lượng là 21,5658g (hai mươi mốt phẩy năm sáu năm tám gam) ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng, thì bị Công an thị trấn P, huyện P, thành phố H phát hiện, bắt quả tang.
Với hành vi nên trêu, bị cáo Võ Anh Q đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4-Huế, thành phố H truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Võ Anh Q là người có năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc tàng trữ ma túy với mục đích để sử dụng là vi phạm pháp luật và sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định. Nhưng vì muốn thỏa mãn cơn nghiện của mình, bị cáo đã thực hiện hành vi trái pháp luật, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, sự phát triển lành mạnh của con người và là nguyên nhân phát sinh các loại tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm mới đảm bảo tác dụng giáo dục bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phạm vào tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Võ Anh Q có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với đối tượng tên “Tý” (theo Q khai là người đã bán ma túy cho Q), qua điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ của người này. Cơ quan chức năng sẽ tiếp tục điều tra làm rõ để xem xét xử lý sau.
Đối với tài khoản Ngân hàng VQRQABGJP7688 TRAN TRONG TU của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 (M) mà Võ A Q chuyển tiền đến để mua ma túy, qua điều tra xác định chủ tài khoản này là Trần Trọng T3 (sinh năm 1997, trú tại: 3 T, phường D, quận E, thành phố Hồ Chí Minh). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã phối hợp cùng Công an phường D, quận E, thành phố Hồ Chí Minh xác minh tại nơi thường trú của T3 để triệu tập làm việc, nhưng T3 đã chuyển đến sinh sống tại địa chỉ A đường E, phường H, thành phố T, thành phố Hồ Chí MinhMinh. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã xác minh tại Công an phường H, thành phố T nhưng được trả lời là không có người nào tên Trần Trọng T3 cư trú tại địa chỉ trên. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục phối hợp với các đơn vị liên quan kiểm tra, xác minh để xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với bà Cái Thị H (sinh năm 1958) và chị Hoàng Thị H2 (sinh năm 1998) cùng cư trú tại tổ dân phố G, thị trấn P, huyện P, thành phố H, qua điều tra xác định được bà H và chị H2 không góp tiền mua ma túy và không biết việc Võ Anh Q cất giấu ma túy trong nhà bà H, nên không đồng phạm với Q trong vụ án này. Quá trình điều tra xác định Hoàng Thị H2 có sử dụng trái phép chất ma túy (xét nghiệm dương tính với ma túy tổng hợp), nên Công an thị trấn P, huyện P đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H2 về hành vi này là có căn cứ.
Đối với nhà xe N1, không xác định được xe nào, nhân viên nào nhận hàng từ đối tượng “Tý”, nhân viên nào giao hàng cho Võ Anh Q, nên không có cơ sở để điều tra, xử lý.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu huỷ: Cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu được khi bắt quả tang, số ma túy còn lại sau khi giám định và các vật dụng đã niêm phong; 01 (một) hộp bưu phẩm màu đen, bên ngoài có ghi “Công trình Huế, Chợ cầu 2. 0902320664 Quân T1 nắm cửa A01”; 01 (một) số các dụng cụ bằng kim loại dùng để lắp tạo thành ổ khoá dạng tay nắm cửa. Ổ khoá dạng tay nắm cửa bằng kim loại đã cũ, đã qua sử dụng có giá trị thấp, không sử dụng được nên cần tiêu huỷ.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO F11 pro, màu đen tím, có số IMEI: 863980045453213, kèm sim số 0902320664 của bị cáo Võ anh Q, bị cáo đã sử dụng vào việc liên hệ mua ma túy nên cần tịch thu, hóa giá sung công quỹ nhà nước.
* Đối với 01(một) xe máy điện màu đen không có biển số là sở hữu của ông Hoàng Văn C. Ông C cho bị cáo Q mượn xe máy để đi lại, không biết bị cáo sử dụng phương tiện này để đi nhận ma tuý nên không có cơ sở xem xét xử lý. Do đó, cần tuyên trả lại cho ông Hoàng Văn C.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Võ Anh Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Võ Anh Q 07 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 02/02/2025.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên xử:
- Tịch thu, tiêu hủy:
+ 01 (một) gói niêm phong bằng giấy trắng và băng keo trong, bên ngoài có 02 (hai) chữ ký của Giám định viên Trần N, 02 (hai) chữ ký của Điều tra viên Nguyễn Hữu T2 và 02 (hai) dấu tròn đỏ của Phòng K Công an thành phố H, phía trên có dòng chữ “H1 mẫu vật vụ Võ Anh Q, bắt ngày 02/02/2025”.
(Theo Kết luận giám định số 83/KL-KTHS ngày 06/02/2025 bên trong gói niêm phong là đối tượng giám định được hoàn lại gồm: 19,5074g (Mười chín phẩy năm không bảy bốn gam) và 1,8584 (Một phẩy tám năm tám tư gam) mẫu tinh thể rắn màu trắng, là ma tuý, loại Methamphetamine; cùng các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định).
+ 01 (một) hộp bưu phẩm màu đen, bên ngoài có ghi “Công trình Huế, Chợ cầu 2. 0902320664 Quân T1 nắm cửa A01”;
+ 01 (một) dụng cụ bằng kim loại dùng để lắp tạo thành ổ khoá dạng tay nắm cửa (đã cũ, đã qua sử dụng);
- Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO F11 pro, màu đen tím, có số IMEI: 863980045453213, kèm sim số 0902320664 (máy cũ, đã qua sử dụng; không kiểm tra chất lượng bên trong máy).
- Trả lại 01 (một) xe máy điện màu đen không có biển số (xe dán nhãn VIET NHAT; xe cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong xe) cho chủ sở hữu là ông Hoàng Văn C.
(Các vật chứng trên có đặc điểm mô tả trên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17 tháng 6 năm 2025 giữa Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lộc).
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử buộc bị cáo Võ Anh Q phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo, được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Huế; - VKSND thành phố Huế; - VKSND Khu vực 4 - Huế; - Phân trại tạm giam khu vực Phú Lộc; - CQ CSĐT thành phố Huế; - THADS TP Huế; - Phòng THADS Khu vực 4 - Huế; - Công an xã Phú Lộc; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; - Lưu văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Huyền |