- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Về điều lu t áp dụng:
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI XUÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2025/HS-ST Ngày 16 - 01 - 2025 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Nguyễn Hồng Quân và ông Ngô Đăng Ký.
- Thư ký phiên tòa: Nguyễn Thị Hương Giang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc An - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 42/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 10 ngày 30 tháng 12 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Hoàng Văn Y; Tên gọi khác: Không; sinh ngày: 10/02/1959 tại Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn Trung V, xã Xuân Liên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng B và bà Nguyễn Thị M (đều đã chết); Vợ: Lê Thị T và 07 con (Lớn nhất sinh năm 1984, nhỏ nhất sinh năm 1999); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 03/8/2024 đến nay; có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Hoàng Văn H, tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 14/5/1975; nơi sinh: huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn Tân Tr, xã Xuân Liên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Đình D và bà Trần Thị S (đều đã chết); Vợ Hoàng Thị L (đã ly hôn) và 03 con (lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2006); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 03/8/2024 đến nay; có mặt tại phiên tòa.
3. Họ và tên: Trần Văn Ch, tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 21/12/1964; nơi sinh: huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn Trung V, xã Xuân Liên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do.; trình độ văn hoá: 6/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Trung C (đã chết) và bà Lê Thị B; Vợ Hoàng Thị H và 02 con lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 1990; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 03/8/2024 đến nay; có mặt tại phiên tòa.
4. Họ và tên: Hoàng Văn M, tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 08/8/1987; nơi sinh: huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn Trung V, xã Xuân Liên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do.; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Ngọc T (Đã chết) và bà Trần Thị T; Vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 06/5/2014, TAND huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 12 tháng t về tội Cướp gi t tài sản tại Bản án số 14/2014/HSST. Chấp hành xong ngày 01/01/2015 (Đã được xóa án tích); Ngày 31/5/2019, Công an huyện Nghi Xuân ra Quyết định xử phạt VPHC số 356 đối với Hoàng Văn M về hành vi đánh bạc, phạt tiền 1.500.000 đồng. Ngày 21/6/2019, M chấp hành xong (Được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính).
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 03/8/2024 đến nay; có mặt tại phiên tòa.
5. Họ và tên: Lê Văn T, tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 23/7/1983; nơi sinh: huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn Trung V, xã Xuân Liên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Ưu Tr và bà Trần Thị L; Vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 03/8/2024 đến nay; có mặt tại phiên tòa.
6. Họ và tên: Hoàng Văn Th, tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 12/8/1978; nơi sinh: huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn Trung V, xã Xuân Liên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn Ng và bà Trần Thị L (đều đã chết); Vợ: Hồ Thị M và 04 con (Lớn nhất sinh năm 1976, nhỏ nhất sinh năm 2015);
Tiền án: Ngày 04/7/2023, bị TAND huyện Nghi Xuân xử phạt 07 tháng t cho hưởng án treo, th i gian thử thách 14 tháng về tội Đánh bạc theo Bản án số 20/2023/HSST. Chấp hành xong ngày 04/6/2024 (Chưa được xóa án tích).
Tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 30/8/2010, bị TAND huyện Nghi Xuân xử phạt 06 tháng t cho hưởng án treo, th i gian thử thách 12 tháng về tội Đánh bạc theo Bản án số 36/HSST (Hiện đã được xóa án tích); Ngày 03/3/2017, Công an huyện Nghi Xuân ra Quyết định xử phạt VPHC số 09, phạt tiền 1.000.000 đồng về hành vi đánh bạc. Đã chấp hành xong (Được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính).
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 03 tháng 8 năm 2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh; Có mặt tại phiên toà.
7. Họ và tên: Trần Văn M, tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 20/01/1986; nơi sinh: huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn Trung V, xã Xuân Liên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc Th và bà Trương Thị Nh; Vợ: Nguyễn Thị T và 02 con (Lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2018); tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 03/8/2024 đến nay; có mặt tại phiên tòa.
8. Họ và tên: Hoàng Văn T, tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 20/10/1994; nơi sinh: huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn Trung V, xã Xuân Liên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn B (đã chết) và bà Trần Thị H; Vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 28/3/2013, TAND huyện Nghi Xuân xử phạt 30 tháng t về tội Cố ý gây thương tích theo Bản án số 13/2013/HS-ST. Chấp hành xong ngày 27/4/2015 (Đã được xóa án tích); Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 03/8/2024 đến nay; có mặt tại phiên tòa.
9. Họ và tên: Trần Văn L, tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 13/3/1957; nơi sinh: huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn Trung V, xã Xuân Liên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 01/10; dân tộc: Kinh; giới tính Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn D và bà Hồ Thị Ngh (đều đã chết); Vợ: Lê Thị H (đã chết) và 04 con (Lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất sinh năm 1997); tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 03/8/2024 đến nay; có mặt tại phiên tòa.
10. Họ và tên: Hoàng Văn C, tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 30/12/1972; nơi sinh: huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Tổ A, khu phố 4, phư ng Trảng Dài, TP Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn H và bà Phan Thị Nh; Vợ: Lê Thị Ng và 02 con (Lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 1995); tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 03/8/2024 đến nay; có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn M: Bà Phan Thị Huyền – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn Ch: Bà Đinh Thị Hiền - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Trần Thị T – Sinh năm 1950; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi cư trú: Thôn Trung V, xã Xuân Liên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. (vắng mặt)
+ Bà Hoàng Thị H – Sinh năm 1966; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi cư trú: Thôn Trung V, xã Xuân Liên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. (vắng mặt)
+ Chị Phan Thị Y – Sinh năm 1994; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi cư trú: Thôn Trung V, xã Xuân Liên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt)
+ Ông Hoàng Đức H – Sinh năm 1940; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi cư trú: Thôn Trung V, xã Xuân Liên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. (vắng mặt)
- Người làm chứng:
+ Anh Hồ Văn H – Sinh năm 1995; Nơi cư trú: Thôn Trung V, xã Xuân Liên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. (vắng mặt)
+ Ông Hoàng Văn C – Sinh năm 1967; Nơi cư trú: Thôn Tân Tr, xã Xuân Liên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 31/7/2024, dòng họ Hoàng tổ chức lễ khánh thành nhà th tại thôn Trung V, xã Xuân Liên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Đến khoảng 19 gi c ng ngày, sau khi ăn uống xong thì mọi ngư i ra về. Lúc này, Hoàng Văn H, Hoàng Văn M và Hoàng Văn Y ở lại nhà th rồi c ng rủ nhau đánh bài “ba cây”, ai thua sẽ bị phạt uống rượu. Hoàng Văn M lấy một bộ bài tú lơ khơ có s n ở trong nhà th , rồi cả ba ngư i c ng ngồi xuống nền nhà th để đánh bài. Đến khoảng 19 gi 30 phút, Hoàng Văn Y nói với Hoàng Văn H và Hoàng Văn M đánh bài được thua b ng tiền với hình thức “ba cây” với mức đặt cược từ 5.000đ đến 10.000đ, thì cả H và M đồng ý. Hình thức đánh như sau: Sử dụng một bộ bài Tú lơ khơ có 52 quân bài, lọc bỏ các quân từ 10 đến K, chỉ sử dụng các quân bài từ 1 (A) đến 9; với các chất bài “Bích, Chuồn, Cơ, Rô”. Ngư i “cầm chương” chia cho m i ngư i chơi 3 quân bài. M i ngư i chơi đặt cược số tiền muốn đánh (từ 5.000đ đến 10.000đ) và tính thắng thua trực tiếp với ngư i “cầm chương”. Nếu bài của ngư i chơi có 03 quân bài liền nhau c ng chất gọi là “Phi ri”. Ngư i chơi có bài “Phi ri” cao hơn là thắng, trong đó bài “Phi ri” cao nhất là 03 quân bài 7-8-9; “phi ri” thấp nhất là A-2-3, khi ngư i chơi có “Phi ri” thì ngư i “cầm chương” phải trả gấp bốn số tiền mà ngư i chơi đã đặt cược và ngược lại. Nếu bài của ngư i chơi không có “Phi ri” mà có ba quân bài giống nhau, khác chất gọi là “Sáp”, thì “Sáp” của ngư i chơi nào cao hơn là thắng, trong đó cao nhất là “Sáp A”, thấp nhất là “Sáp 2”. Nếu ngư i chơi có “Sáp” thì ngư i “cầm chương” phải trả gấp ba số tiền mà ngư i chơi đã đặt cược và ngược lại. Nếu bài của ngư i chơi không có “phi ri”, “Sáp” thì tính “Điểm” để phân định thắng thua. Ngư i nào có tổng điểm của 03 quân bài cao hơn là ngư i đó thắng (điểm cao nhất là 10 và thấp nhất là 1). Trư ng hợp ván bài đó, ngư i chơi và ngư i “cầm chương” có c ng giá trị bài cao nhất b ng nhau thì bài của ngư i nào có quân bài “Rô” lớn hơn thì ngư i đó thắng. Nếu ván bài đó không có ai tròn (10 điểm) thì ngư i “cầm chương” sẽ chung, chi tiền cho ngư i chơi theo thực tế của ván bài và tiếp tục làm chương. Nếu có ngư i chơi 10 điểm thì ngư i “cầm chương” phải trả gấp hai số tiền mà ngư i chơi đã đặt cược và ngược lại, đồng th i ngư i chơi có 10 điểm đó sẽ được “cầm chương” để chia ván bài tiếp theo và ván đầu tiên cầm bài phát chơi là Hoàng Văn Y phát bài. Sau đó ai thắng sẽ cầm chương phát bài tiếp theo.
Cả ba ngư i đánh được một lúc, đến khoảng 19 gi 45 phút thì có Lê Văn T; 20 gi có Hoàng Văn Th, 20 gi 30 phút có Trần Văn M, 20 gi 40 phút có Hoàng Văn C và 20 gi 45 phút có Hoàng Văn T, Trần Văn L, Trần Văn Ch đến c ng tham gia đánh bạc. Lúc này, mọi ngư i thống nhất nâng mức đặt cược lên 50.000đ, rồi 100.000đ. Khoảng 20 gi 55 phút, Hoàng Văn M thua 250.000đ nên không tham gia đánh bạc n a, mà ngồi xem, cho đến khoảng 21 gi c ng ngày, thì Công an huyện Nghi Xuân tiến hành kiểm tra, phát hiện, l p biên bản vi phạm, thu gi 01 bộ bài tú lơ khơ và số tiền 11.300.000 đồng. Gồm: Thu của Hoàng Văn C số tiền 1.250.000 đồng (trong đó 250.000 đồng thu gi tại chiếu và 1.000.000 đồng thu gi trong ví); Hoàng Văn H số tiền 1.500.000 đồng trong túi áo ngực bên trái; Trần Văn Ch số tiền 1.000.000 đồng (trong đó 200.000 đồng thu gi tại chiếu và 800.000 đồng thu gi trong ví); Trần Văn L số tiền 2.050.000 đồng (trong đó 500.000 đồng tại chiếu và 1.550.000 đồng trong túi áo ngực); Hoàng Văn T số tiền 750.000 đồng tại chiếu bạc; Trần Văn M số tiền 1.200.000 đồng (trong đó 200.000 đồng tại chiếu và 1.000.000 đồng trên ngư i); Hoàng Văn M 2.600.000 đồng trong túi quần sau, bên trái; Hoàng Văn Y 100.000 đồng; Hoàng Văn Th 350.000 đồng và Lê Văn T 500.000 đồng (đều thu tại chiếu bạc).
Quá trình điều tra, xác định tổng số tiền mà các bị can sử dụng để đánh bạc là 6.650.000 đồng, cụ thể:
- Hoàng Văn M sử dụng 250.000 đồng để đánh bạc, thua 250.000 đồng.
- Hoàng Văn H sử dụng 1.720.000 đồng để đánh bạc, thua 220.000 đồng.
- Hoàng Văn Y sử dụng 450.000 đồng để đánh bạc, thua 350.000 đồng.
- Trần Văn M sử dụng 530.000 đồng để đánh bạc, thắng 670.000 đồng.
- Trần Văn Ch sử dụng 1.400.000 đồng để đánh bạc, thua 400.000 đồng.
- Trần Văn L sử dụng 500.000 đồng để đánh bạc, thắng 500.000 đồng.
- Hoàng Văn Th sử dụng 500.000 đồng để đánh bạc, thua 150.000 đồng.
- Hoàng Văn T sử dụng 500.000 đồng để đánh bạc, thắng 250.000 đồng.
- Lê Văn T sử dụng 500.000 đồng để đánh bạc, không thắng, không thua.
- Hoàng Văn C sử dụng 300.000 đồng để đánh bạc, thua 50.000 đồng.
Bị cáo Trần Văn Ch và Hoàng Văn M đang được hưởng chế độ chính sách trợ cấp xã hội đối với cá nhân thuộc diện ngư i khuyết t t nặng từ 16 đến 60 tuổi (Hồ sơ hưởng trợ cấp đảm bảo xã hội)
+ V t chứng vụ án:
- Số tiền 11.300.000 đồng (Mư i một triệu ba trăm nghìn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (thu gi tại chiếu bạc và trong ngư i các bị cáo).
- 01 (Một) bộ bài Tú lơ khơ 52 quân, đã qua sử dụng.
Với hành vi trên, Cáo trạng số 43/CT-VKS-NX ngày 14/11/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân đã truy tố các bị cáo Hoàng Văn Y, Hoàng Văn H, Trần Văn Ch , Hoàng Văn M, Lê Văn T, Hoàng Văn Th, Trần Văn M, Hoàng Văn T, Trần Văn L và Hoàng Văn C về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ lu t hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nh n hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân vẫn gi nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Hoàng Văn Y, Hoàng Văn H, Trần Văn Ch , Hoàng Văn M, Lê Văn T, Hoàng Văn Th, Trần Văn M, Hoàng Văn T, Trần Văn Lvà Hoàng Văn C về tội “Đánh bạc“.
- Về hình phạt:
- Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, khoản 2 Điều 32, Điều 38, Điều 58, Điều 65 của Bộ lu t hình sự xử phạt Hoàng Văn Y mức án từ 07 đến 09 tháng t cho hưởng án treo, th i gian thử thách 14 đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 32, Điều 38, Điều 58 Bộ lu t hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Văn Th mức án từ 06 đến 09 tháng t giam. Th i hạn t tính từ ngày bắt tạm giam 03/8/2024.
- Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s (thêm điểm p trừ điểm i đối với M ) (thêm điểm p,q đối với Chức) khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, khoản 2 Điều 32, Điều 38, Điều 58, Điều 65 của Bộ lu t hình sự xử phạt Hoàng Văn H, Hoàng Văn T, Lê Văn T, Hoàng Văn M, Trần Văn Ch, mức án từ 06 đến 09 tháng t cho hưởng án treo, th i gian thử thách 12 đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; phạt tiền bổ sung từ 10 đến 15 triệu đồng đối với các bị cáo Hoàng Văn H, Hoàng Văn T, Lê Văn T.
- Đề nghị áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; điểm b khoản 1 Điều 32; điểm a khoản 1 khoản 3 Điều 35 BLHS đề nghị xử phạt Trần Văn M, Trần Văn L, Hoàng Văn C từ 20 đến 25 triệu đồng.
- Xử lý v t chứng:
Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ lu t hình sự; Điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ lu t tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) bộ bài Tú lơ khơ 52 quân, đã qua sử dụng
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền: 6.650.000 đồng (Sáu triệu sáu trăm năm mười nghìn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc).
Trả lại cho các bị cáo 4.650.000đ (Bốn triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng). Cụ thể: Trả lại cho Hoàng Văn C số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng); Trần Văn L số tiền 1.050.000đ (Một triệu không trăm năm mươi ngàn đồng); Hoàng Văn M số tiền 2.600.000đ (Hai triệu sáu trăm ngàn đồng)
- Về án phí:
Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ lu t tố tụng hình sự; Điều 3; khoản 1 Điều 6; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 và mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án, ban hành k m theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của y ban thư ng vụ Quốc Hội buộc các bị cáo: Hoàng Văn Th, Hoàng Văn T, Hoàng Văn H, Trần Văn M, Lê Văn T và Hoàng Văn C nộp 200.000đ APHSST.
Miễn án phí HSST đối với bị cáo Hoàng Văn Y, Trần Văn L (Ngư i cao tuổi), Hoàng Văn M, Trần Văn Ch (ngư i khuyết t t).
Trợ giúp viên pháp lý cho các bị cáo Hoàng Văn M cơ bản đồng tình với bản lu n tội của vị đại diện VKS và có ý kiến về việc đề nghị của VKS với hành vi của Trần Văn Ch có đề nghị xem xét xử cho bị cáo về hình phạt cải tạo không giam gi vì nhân thân bị cáo lần đầu phạm tội tuổi cao, đang hưởng chế độ khuyết t t nên cho bị cáo được cải tạo không giam gi là ph hợp nh m tạo điều kiện cho bị cáo.
Các bị cáo nói l i sau c ng thừa nh n hành vi phạm tội của mình, không có tranh lu n gì với lu n tội của đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nh n định như sau:
Tính hợp pháp của các hành vi và quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nghi Xuân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ lu t tố tụng hình sự. Các bị cáo, ngư i tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa vắng mặt nh ng ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án, và nh ng ngư i chứng kiến trong vụ án nhưng xét việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử bị cáo nên không cần phải hoãn phiên tòa.
L i khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay ph hợp với l i khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, với nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và các chứng cứ khác có tại hồ sơ, như v y đủ cơ sở kết lu n: Khoảng 19 gi 30 phút ngày 31/7/2024, Hoàng Văn Y, Hoàng Văn H, Hoàng Văn M, Lê Văn T, Trần Văn M , Hoàng Văn Th, Hoàng Văn T , Hoàng Văn C, Trần Văn L, Trần Văn Ch là các đối tượng đã có hành vi đánh bạc tại nhà th họ Hoàng thuộc địa ph n xã Xuân Liên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh b ng hình thức đánh “ba cây”, tang số vụ đánh bạc là 6.650.000đ nên hành vi của các bị cáo nêu trên đã cấu thành tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 điều 321 BLHS.
Hành vi của các bị cáo Hoàng Văn Y, Hoàng Văn H, Trần Văn Ch , Hoàng Văn M, Lê Văn T, Hoàng Văn Th, Trần Văn M, Hoàng Văn T, Trần Văn Lvà Hoàng Văn C đánh bạc trái phép dưới hình thức được thua b ng tiền có trị giá 6.650.000 đồng đã phạm vào tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ lu t hình sự. Do đó việc truy tố, xét xử các bị cáo về tội danh, điều lu t nêu trên là có căn cứ, đúng ngư i, đúng tội, không oan sai.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trư ng hợp ít nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến tr t tự quản lý công cộng được pháp lu t bảo vệ, đồng th i làm ảnh hưởng đến tr t tự an toàn xã hội, gây dư lu n xấu trong quần chúng nhân dân, nên cần phải xử lý nghiêm trước pháp lu t nh m răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.
Về đánh giá vai trò vị trí của các bị cáo trong vụ án:
Trong vụ án này, Hoàng Văn Y là ngư i tham gia đánh bạc từ đầu (19 gi 30 phút) cho đến khi bị bắt, sử dụng số tiền 450.000đ để đánh bạc, bản thân Yên c ng là ngư i khởi xướng nên gi vai trò đầu vụ. Còn các bị can khác gi vai trò đồng phạm, trong đó: Hoàng Văn H tham gia đánh bạc từ đầu (19 gi 30 phút) cho đến khi bị bắt; sử dụng số tiền 1.720.000đ để đánh bạc; Hoàng Văn M tham gia đánh bạc từ đầu (19 gi 30 phút) cho đến 20 gi 55 phút); sử dụng số tiền 250.000đ để đánh bạc;Trần Văn Ch tham gia đánh bạc từ lúc 19 gi 45 phút cho đến khi bị bắt; sử dụng số tiền 1.400.000đ để đánh bạc; Lê Văn T tham gia đánh bạc từ 19 gi 45 phút cho đến khi bị bắt; sử dụng số tiền 500.000đ để đánh bạc; Hoàng Văn Th tham gia đánh bạc từ lúc 20 gi cho đến khi bị bắt; sử dụng số tiền 500.000đ để đánh bạc; Trần Văn M tham gia đánh bạc từ lúc 20 gi cho đến khi bị bắt; sử dụng số tiền 530.000đ để đánh bạc; Hoàng Văn T tham gia đánh bạc từ 20 gi 30 phút cho đến khi bị bắt; sử dụng số tiền 500.000đ để đánh bạc; Trần Văn Ltham gia đánh bạc từ lúc 20 gi 45 phút cho đến khi bị bắt; sử dụng số tiền 500.000đ để đánh bạc; Hoàng Văn C tham gia đánh bạc từ 20 gi 40 phút cho đến khi bị bắt; sử dụng số tiền 300.000đ để đánh bạc.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Hoàng Văn Th phải chịu tình tiết tăng nặng tái phạm (quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ lu t hình sự).
Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trư ng hợp ít nghiêm trọng (trừ bị cáo Hoàng Văn Th và Hoàng Văn M); thành khẩn khai báo được quy định tại điểm i và điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ lu t Hình sự.
Hoàng Văn M và Trần Văn Ch được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p, khoản 1, Điều 51 Bộ lu t hình sự (Ngư i phạm tội là ngư i khuyết t t nặng).
Trần Văn Ch còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm q, khoản 1, Điều 51 Bộ lu t hình sự (Ngư i phạm tội là ngư i có bệnh bị hạn chế khả năng nh n thức hoặc điều khiển hành vi của mình).
Các bị cáo Hoàng Văn Y; Hoàng Văn M; Trần Văn Ch; Trần Văn L; Lê Văn T; Hoàng Văn H; Hoàng Văn C được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ lu t hình sự (Bố mẹ đẻ là ngư i có công với cách mạng).
Trên cơ sở xem xét, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, vai trò vị trí của các bị cáo trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. HĐXX thấy r ng:
Đối với bị cáo Hoàng Văn Y là ngư i tham gia đánh bạc từ đầu (19 gi 30 phút) cho đến khi bị bắt, sử dụng số tiền 450.000đ để đánh bạc, bản thân Yên c ng là ngư i khởi xướng nên gi vai trò đầu vụ, mặc d đã gần 70 tuổi nhưng bản thân bị cáo là ngư i cao tuổi trong dòng họ nhưng bị cáo đã không biết tu dưỡng bản thân mà rượu ch dẫn đến sau khi xong lễ mọi ngư i đã về hết nhưng bị cáo vẫn rủ Hiền, M tham gia đánh mặc d bước đầu chỉ đánh để uống rượu nhưng sau khi không thể uống rượu được n a thì lại chuyển sang đánh bài ăn tiền dẫn đến việc nh ng ngư i trong dòng họ d đã về nhà rồi nhưng sau khi biết trong nhà th có ngư i đánh bài nên đã đến tham gia c ng nhau. Đáng lẽ lúc đó bị cáo phải biết giác ngộ mà dừng lại và đuổi con cháu về thì đây bị cáo lại tiếp tục tham gia đánh để khi thua hết tiền vẫn ngồi lại xem. Với hành vi đó thể hiện bị cáo là ngư i không gương mẫu, không có ý thức và không biết tôn trọng pháp lu t, nếu bị cáo biết nh n thức về hành vi đánh bạc là vi phạm pháp lu t thì sẽ không gây ra h u quả của vụ án. Tuy nhiên khi lượng hình c ng cần xem xét cho bị cáo phần nào vì bị cáo lần đầu phạm tội, nhân thân tốt, gia đình có bố mẹ là ngư i có công với cách mạng, bản thân bị cáo c ng có th i gian tham gia quân ng và về được hưởng chế độ một lần, hiện tại có hoàn cảnh khó khăn, bệnh t t, sức khỏe yếu các con đi làm ăn xa, vợ c ng già yếu hay đau ốm nên xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đ i sống xã hội mà nên tạo điều kiện cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương như đề nghị của đại diện VKS là ph hợp.
Đối với bị cáo Hoàng Văn M là ngư i tham gia giai đoạn đầu, đồng th i là ngư i trực tiếp tham gia đánh bạc nên gi vai trò thực hành tích cực sử dụng số tiền mặc d có 250.000 đồng để đánh bạc nhưng nhân thân bị cáo xấu năm 2014 bị TAND huyện Nghi Xuân xử phạt 12 tháng t về tội Cướp gi t tài sản (Đã được xóa án tích); Ngày 31/5/2019, Công an huyện Nghi Xuân ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, phạt tiền 1.500.000 đồng mặc d đã chấp hành xong hình phạt nhưng thể hiện bị cáo là ngư i không biết tu dưỡng cải tạo mình bản thân t t nguyền được hưởng chế độ ưu đãi trợ cấp hàng tháng của nhà nước m i tháng 700.000đ đồng đáng lẽ bị cáo phải nh n thức được hành vi của mình để tránh vi phạm pháp lu t nhưng không lấy đó làm răn đe. Tuy nhiên các hành vi đó của bị cáo đã được xóa án tích bản thân t t nguyền số tiền tham gia đánh bạc ít, vụ án mang tính chất bột phát, không có tổ chức mà mang tính chất giản đơn nên xét thấy c ng không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà nên khoan hồng cho bị cáo được hưởng án treo ph hợp với l i đề nghị của đại diện VKS nên HĐXX chấp nh n.
Đối với các bị cáo Hoàng Văn H tham gia tích cực ở giai đoạn đầu c ng với Y, M đến khi bị bắt. Bản thân bị cáo sử dụng số tiền nhiều nhất hơn 1.700.000đồng sử dụng đánh bạc nhưng xét thấy bản thân bị cáo có nhân tốt tốt trước đây có tham gia quân đội, hoàn cảnh hết sức khó khăn vợ bỏ đi lâu không tin tức, hiện tại có 2 con trai đang tình nguyện phục vụ quân đội nên xét thấy c ng cần khoan hồng cho bị cáo và xử cho bị cáo được hưởng án treo và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương c ng là đủ nghiêm.
Đối với bị cáo Hoàng Văn Th tham gia mặc d với một khoảng th i gian ngăn đánh được mấy ván thì bị bắt nhưng xét thấy nhân thân bị cáo xấu đang có tiền án về tội đánh bạc chưa được xóa án tích nhưng tiếp tục phạm tội thể hiện bị cáo bất chấp coi thư ng pháp lu t nên c ng phải lên cho bị cáo mực án nghiêm mới có đủ điều kiện để cải tạo bị cáo thành ngư i có ích. Nhưng xét thấy hành vi của bị cáo tham gia đánh bạc là bột phát sử dụng số tiền đánh bạc ít, thực hiện hành vi trong vai trò thứ yếu. nên c ng nên xem xét cho bị cáo phần nào và xử bị cáo ở mức đầu khung hình phạt và buộc bị cáo tiếp tục chấp hành hình phạt t và phạt bổ sung bị cáo c ng là đủ nghiêm.
Còn đối với bị cáo Trần Văn Ch hiện nay bị cáo Ch đang được hưởng chế độ của Nhà nước hàng tháng được nhà nước h trợ 720 ngàn đồng tại địa phương hàng ngày bị cáo vẫn tham gia giúp đỡ cho vợ buôn bán và th i điểm tham gia đánh bạc bị cáo sử dụng số tiền trên 1 triệu đồng nhiều hơn so với các bị cáo khác nhưng khi quyết định hình phạt c ng cần cân nhắc cho bị cáo phần nào vì bị cáo có nhân thân tốt có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên c ng không cần thiết phải cách ly bị cáo mà cho bị cáo được hưởng án treo là ph hợp.
Đối với Hoàng Văn T là ngư i trẻ tuổi nhất trong các bị cáo mặc d tham gia gia đoạn sau c ng các bị cáo khác nhưng c ng có nhân thân xấu, năm 2013 bị Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân xử phạt 30 tháng t về tội cố ý gây thương tích đã được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục phạm tội thể hiện tính coi thư ng pháp lu t nên c ng cần phải xử bị cáo mức án nghiêm mới đủ điều kiện để cải tạo bị cáo thành ngư i có ích cho xã hội nhưng c ng không cần thiết phải cách ly bị cáo mà cho bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo c ng là đủ nghiêm.
Đối với Lê Văn T tuổi còn trẻ nhân thân tốt có nhiều tình tiết giảm nhẹ phạm tội lần đầu thuộc trư ng hợp ít nghiêm trọng cho nên không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, nên cho bị cáo được hưởng án treo là ph hợp.
Đối với các bị cáo Trần Văn M, TrầnVăn L và Hoàng Văn C tham gia với vai trò thứ yếu số tiền tham gia ít chơi trong khoảng th i gian ngắn thì bị bắt, nhân thân tốt nguyện vọng xin được phạt tiền ph hợp với l i đề nghị của đại diện VKS nên HĐXX chấp nh n.
Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền các bị cáo Hoàng Văn Th, Trần Văn Tiến, Hoàng Văn T m i bị cáo 10.000.000 triệu đồng.
Về xử lý v t chứng:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ lu t hình sự; Điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ lu t tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) bộ bài Tú lơ khơ 52 quân, đã qua sử dụng
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền: 6.650.000 đồng (Sáu triệu sáu trăm năm mư i nghìn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc).
Trả lại cho các bị cáo số tiền không liên quan đến vụ án 4.650.000đ (Bốn triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng). Cụ thể: Trả lại cho Hoàng Văn C số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng); Trần Văn L số tiền 1.050.000đ (Một triệu không trăm năm mươi ngàn đồng); Hoàng Văn M số tiền 2.600.000đ (Hai triệu sáu trăm ngàn đồng).
Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; ngư i có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo theo quy định của pháp lu t.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Về điều lu t áp dụng:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, khoản 2 Điều 32, Điều 38, Điều 58, Điều 65 của Bộ lu t hình sự đối với Hoàng Văn Y;
Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 2 Điều 32, Điều 38, Điều 58 Bộ lu t hình sự đối với Hoàng Văn Th;
Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s (thêm điểm p trừ điểm i đối với Hoàng Văn M) (thêm điểm p, q đối với Trần Văn Ch) khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, khoản 2 Điều 32, Điều 38, Điều 58, Điều 65 của Bộ lu t hình sự xử phạt Hoàng Văn H, Hoàng Văn T, Lê Văn T, Hoàng Văn M, Trần Văn Ch;
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; điểm b khoản 1 Điều 32; điểm a khoản 1, khoản 3 Điều 35 BLHS đối với Trần Văn Mạnh, Trần Văn Lán, Hoàng Văn C;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ lu t hình sự; Điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ lu t tố tụng hình sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ lu t tố tụng hình sự; Điều 3; khoản 1 Điều 6; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 và mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án, ban hành k m theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của y ban thư ng vụ Quốc Hội;
[2] Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Hoàng Văn Y, Hoàng Văn Th, Hoàng Văn M, Hoàng Văn T, Hoàng Văn H, Trần Văn Ch , Trần Văn M, Lê Văn T, Trần Văn Lvà Hoàng Văn C phạm tội “Đánh bạc”.
[3] Về hình phạt:
+ Xử phạt Hoàng Văn Y 07 (bảy) tháng t cho hưởng án treo, th i gian thử thách 14 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
+ Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Th 06 tháng t giam. Th i hạn t tính từ ngày bắt tạm giam 03/8/2024. Phạt bổ sung 10.000.000 đồng (Mư i triệu đồng).
+ Xử phạt Hoàng Văn H, Hoàng Văn T, Lê Văn T, Hoàng Văn M, Trần Văn Ch 06 (sáu) tháng t cho hưởng án treo, th i gian thử thách 12 (mư i hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; phạt tiền bổ sung 10.000.000 đồng (Mư i triệu đồng) đối với các bị cáo Hoàng Văn H, Hoàng Văn T, Lê Văn T.
Giao các bị cáo Hoàng Văn Y, Hoàng Văn H, Hoàng Văn T, Lê Văn T, Hoàng Văn M, Trần Văn Ch cho UBND xã Xuân Liên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong th i gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã Xuân Liên giám sát, giáo dục bị cáo.
Trư ng hợp ngư i được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Lu t thi hành án hình sự 2019.
Trong th i gian thử thách, ngư i được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngư i được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt t của bản án đã cho hưởng án treo.
+ Xử phạt Trần Văn M, Trần Văn L, Hoàng Văn C 20.000.000đ (Hai mươi triệu ) đồng.
[4] Về xử lý v t chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) bộ bài Tú lơ khơ 52 quân, đã qua sử dụng. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền: 6.650.000 đồng (Sáu triệu sáu trăm năm mư i nghìn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc).
Trả lại cho các bị cáo 4.650.000 đồng (Bốn triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng). Cụ thể: Trả lại cho Hoàng Văn C số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng); Trần Văn L số tiền 1.050.000 đồng (Một triệu không trăm năm mươi ngàn đồng); Hoàng Văn M số tiền 2.600.000 đồng (Hai triệu sáu trăm ngàn đồng)
[5] Về án phí: Buộc các bị cáo: Hoàng Văn Th, Hoàng Văn T, Hoàng Văn H, Trần Văn M, Lê Văn T và Hoàng Văn C m i bị cáo nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Miễn án phí HSST đối với bị cáo Hoàng Văn Y, Trần Văn L (Ngư i cao tuổi) Hoàng Văn M, Trần Văn Ch (ngư i khuyết t t).
[6] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Ngư i có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngư i có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nh n được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND huyện Nghi Xuân; - CQCSĐT Công an huyện Nghi Xuân; - CQTHAHS Công an H.Nghi Xuân; - Sở Tư pháp Hà Tĩnh; - Chi cục THADS huyện Nghi Xuân; - UBND xã Xuân Liên, H. Nghi Xuân; - Hồ sơ Công an; - Trại tạm giam CA tỉnh Hà Tĩnh; - Bị cáo; Ngư i CQLNVLQ; - Lưu: HS; VP-TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký đóng dấu) Đặng Thị Hƣơng |