vanban.org

Bản án 01/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang Tuyên án 03/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Hình phạt: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MÈO VẠC
TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2025 /HS-ST
Ngày 03/01/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÈO VẠC, TỈNH HÀ GIANG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thúy Yên

Các Hội thẩm nhân dân: bà Sùng Thị Máy, ông Ngô Chí Cường

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: bà Trần Thúy An- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: ông Vàng Mí Chứ - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2024 đối bị cáo:

Nguyễn Văn C; (tên gọi khác: Không có); sinh ngày 02/9/1990; tại huyện M, tỉnh H; Nơi cư trú: thôn B, xã N, huyện M, tỉnh H; nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Tày; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Văn L, sinh năm 1969 và bà Phùng Thị Đ, sinh năm 1969; vợ: Phan Thị P, sinh năm 1992 và 02 (hai) con; Tiền án, tiền sự: không; nhân thân: không

Bị cáo bị tạm giữ ngày 21/8/2024, hiện đang bị tạm giam, có mặt.

- Người làm chứng: Phan Thị P, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 19 giờ 10 phút ngày 21/8/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mèo Vạc nhận được tố giác qua điện thoại của 01 công dân (vì lý do cá nhân nên người này không cung cấp họ tên, tuổi, địa chỉ) với nội dung: Nguyễn Văn C là người nghiện ma tuý, một mình điều khiển xe máy đi theo hướng đường từ thôn Nậm Chuầy đi thôn Niêm Đồng, xã Niêm Sơn, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Sau khi nhận tố giác, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mèo Vạc đã phối hợp với Công an xã Niêm Sơn, huyện Mèo Vạc tiến hành kiểm tra, xác minh. Đến 19 giờ 50 phút ngày 21/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mèo Vạc phát hiện Nguyễn Văn C đang điều khiển xe máy nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 33N3-9768 tại địa phận thôn Bản Tại, xã Niêm Sơn, huyện Mèo Vạc, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã yêu cầu C dừng xe để kiểm tra. Trước khi dừng xe C đã ném 01 gói nilon màu trắng có kích thước to bằng đầu ngón tay cái người lớn xuống bụi cỏ ven đường. Sau khi dừng xe Cơ quan Cảnh sát điều tra đã yêu cầu C nhặt gói nilon lên để kiểm tra, quá trình kiểm tra phát hiện bên trong gói nilon có 01 (một) gói nilon màu đen, kích thước (3,2 x 2,8)cm, mở gói nilon bên trong chứa: 02 (hai) gói nilon màu đen có kích thước khác nhau, cụ thể: gói thứ nhất, kích thước (03 x 0,7)cm, bên trong có 01 gói giấy trên bề mặt có nhiều màu sắc và chữ màu đen, kích thước (2,8 x 0,6)cm, mở gói giấy bên trong chứa chất màu trắng dạng bột, cục. Gói nilon thứ hai, kích thước (2,6 x 1,6)cm, bên trong có 02 (hai) gói giấy, trong đó: 01 (một) gói giấy màu trắng, kích thước (02 x 06)cm, bên trong chứa chất màu trắng dạng bột, cục; gói giấy còn lại trên bề mặt có nhiều màu sắc, kích thước (2,6 x 1,5)cm, bên trong có 01 (một) gói giấy bạc, kích thước (1,3 x 0,5)cm, bên trong gói giấy bạc này chứa chất màu trắng ngà dạng bột, cục đã bị ẩm ướt (C khai nhận chất dạng bột, cục trên là ma tuý heroine). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mèo Vạc tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ đồ vật có liên quan đối với Nguyễn Văn C. Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát Công an huyện Mèo Vạc tiến hành khám xét chỗ ở của Nguyễn Văn C, không phát hiện tạm giữ đồ vật, tài sản gì.

Nguyễn Văn C khai nhận: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 21/8/2024, C điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Wave Alpha, biển kiểm soát 33N3-9768 từ nhà đi sang xã Nam Cao, huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng mua ma tuý của 01 người đàn ông (khoảng 40 tuổi, C không biết họ tên, tuổi, địa chỉ) với số tiền 700.000đ (bảy trăm nghìn đồng), đến khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày người đàn ông đưa cho C 01 gói nilong nhỏ màu trắng đã buộc kín, do trời mưa nên C không mở ra xem, sau đó C lấy 700.000đ (bảy trăm nghìn đồng) trong túi quần ra đưa cho người đàn ông trên. Sau khi mua được ma tuý C cầm gói ma tuý trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe máy đi về nhà. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, khi C điều khiển xe máy đến đoạn đường bê tông thuộc thôn Bản Tại, xã Niêm Sơn, huyện Mèo Vạc thì bị tổ công tác Công an huyện Mèo Vạc phát hiện, bắt quả tang.

Tiến hành kiểm tra, xét nghiệm tình trạng ma tuý đối với Nguyễn Văn C, kết quả C dương tính với ma tuý loại Morphine.

Tiến hành cân tịnh và trích mẫu gửi giám định, tổng khối lượng tang vật là 0,430 gam (không phẩy bốn trăm ba mươi gam).

Tại bản kết luận giám định số 315/KL-KTHS ngày 29/8/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang, kết luận: 03 (ba) mẫu gửi giám định ký hiệu lần lượt theo thứ tự từ A1, A2, A3 đều là ma túy, loại heroin (Heroine), có tổng khối lượng là 0,430 gam (không phẩy bốn trăm ba mươi gam).

Quá trình điều tra xác định, nguồn gốc chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Wave Alpha, biển kiểm soát 33N3-9768 do bị cáo C mua lại của anh Lý Văn N1 (sinh năm 1987, trú tại tổ 1, thị trấn M, huyện M - làm nghề mua bán, sửa chữa xe mô tô, xe máy) với số tiền 7.000.000 đồng kèm theo giấy đăng ký xe; anh N1 mua lại chiếc xe máy trên của anh Nguyễn Công C1 (sinh năm 1992, trú tại tổ 4, thị trấn M, huyện M - làm nghề thu mua sắt vụn) với giá 3.700.000đ, do chiếc xe máy bị hư hỏng nên anh N1 đã thay thế, sửa chữa một số linh kiện trong đó có thay thế vách máy (vách máy có gắn số máy của xe) nên chiếc xe máy này không còn số máy. Anh C1 xác nhận vào khoảng tháng 3/2023 anh C1 đã mua chiếc xe máy biển kiểm soát 33N3-9768 và Giấy đăng ký trên của một người đàn ông khoảng 35 đến 40 tuổi, anh C1 không biết họ tên, tuổi, địa chỉ của người này với số tiền 2.000.000 đồng.

Ngày 17/9/2024 chị Phan Thị P (là vợ Nguyễn Văn C) đã tự nguyện giao nộp 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 006435, tên chủ xe PHẠM QUANG TIỀN, địa chỉ: Xuân Sơn - Sơn Tây - Hà Tây, biển kiểm soát 33N3-9768 do Công an tỉnh Hà Tây cấp ngày 02/6/2005.

Trong quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mèo Vạc xác định số khung, số máy của chiếc xe máy trên không đúng với số khung, số máy trong giấy đăng ký xe mô tô, gắn máy do chị Phan Thị P cung cấp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mèo Vạc đã tiến hành trưng cầu giám định số khung, số máy nguyên thuỷ của chiếc xe máy trên. Tại bản kết luận giám định số 383/KL-KTHS ngày 23/10/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang kết luận: "Bề mặt kim loại tại vị trí đóng số khung xe mô tô cần giám định bị mài mòn một vài ký tự. Quá trình giám định xác định được số khung nguyên thuỷ của xe là RLHHC09084Y606982. Không phát hiện số máy trên thân động cơ xe mô tô cần giám định.”

Đối với Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 006435, biển kiểm soát 33N3-9768 do Công an tỉnh Hà Tây cấp ngày 02/6/2005, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trưng cầu giám định Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang giám định là Giấy đăng ký thật hay giả? Tại bản kết luận giám định số 381/KL-KTHS ngày 23/10/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang kết luận Đăng ký xe mô tô, xe máy trên là giả.

Trong quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mèo Vạc không xác định được chủ sở hữu của xe mang biển kiểm soát 33N3-9768; không xác định được đối với người đứng tên trong giấy đăng ký xe là Phạm Quang Tiền, địa chỉ Xuân Sơn, Sơn Tây, Hà Tây.

* Vật chứng đã thu giữ:

Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang đã tiến hành tạm giữ, thu giữ tài liệu, đồ vật sau:

- 01 (một) chiếc điện thoại di động, loại màn hình cảm ứng, vỏ màu đen và có chữ Realme, điện thoại đã qua sử dụng. Chiếc điện thoại đã được niêm phong vào bên trong một chiếc phong bì, bên ngoài ghi chữ “Chiếc điện thoại di động tạm giữ của Nguyễn Văn C ngày 21/8/2024”, phần mép dán có chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong và hình dấu của Công an xã Niêm Sơn, huyện Mèo Vạc.

- Số tiền 470.000đ (bốn trăm bảy mươi nghìn đồng). Số tiền đã được niêm phong bên trong một chiếc phong bì, bên ngoài ghi chữ ghi chữ "Số tiền 470.000đ phát hiện, tạm giữ của Nguyễn Văn C ngày 21/8/2024", phần mép dán có chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong và hình dấu của Công an xã Niêm Sơn, huyện Mèo Vạc.

- 01 (một) chiếc chìa khóa xe máy bằng kim loại, có phần tay cầm bọc nhựa màu đen.

- 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave alpha, màu sơn

xanh, biển kiểm soát 33N3-9768, xe đã qua sử dụng.

- 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 006435, tên chủ xe PHẠM QUANG TIỀN, địa chỉ: Xuân Sơn - Sơn Tây - Hà Tây, biển kiểm soát 33N3-9768 do Công an tỉnh Hà Tây cấp ngày 02/6/2005.

* Vật chứng, đồ vật, tài liệu sau khi cân tịnh, giám định:

- Các vỏ bao gói, mảnh giấy bạc và chiếc phong bì niêm phong cũ. Số vật chứng nêu trên đã được niêm phong trong một chiếc phong bì, bên ngoài ghi chữ “Các vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ sau khi cân tịnh gửi giám định”, phần mép dán có chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong và hình dấu của Cơ quan CSĐT Công an huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang.

- 03 (ba) mẫu vật ma túy heroin do Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Hà Giang hoàn trả lại sau khi giám định, ký hiệu A1, A2, A3. Ba mẫu vật trên đã được niêm phong trong một chiếc phong bì, bên ngoài ghi chữ “Mẫu hoàn lại sau giám định ký hiệu A1, A2, A3”, mặt sau phong bì phần mép dán có chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Hà Giang.

- Các vỏ gói giấy ma túy heroin gửi giám định do Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Hà Giang hoàn trả. Các vỏ gói giấy nêu trên đã được niêm phong trong một chiếc phong bì, bên ngoài phong bì ghi chữ “Vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ”, mặt sau phong bì phần mép dán có chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Hà Giang.

* Xử lý vật chứng, đồ vật, tài liệu:

Đối với một số đồ vật tạm giữ quá trình điều tra xét thấy không liên quan đến vụ án, ngày 07/11/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Mèo Vạc đã ra Quyết định xử lý vật chứng số: 306/QĐ-ĐCSHS-KTMT trả lại 01 chiếc điện thoại di động và số tiền 470.000đ (bốn trăm bảy mươi nghìn đồng) tạm giữ của bị cáo Nguyễn Văn C cho vợ là bà Phan Thị P theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 26/CT-VKSMV ngày 22/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang để xét xử bị cáo Nguyễn Văn C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mèo Vạc, đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C mức án từ 14 (mười bốn) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 21/8/2024.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:

+ Trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp những đồ vật tài sản sau: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn C: 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave alpha, màu sơn xanh (xe không có biển kiểm soát) và 01 (một) chiếc chìa khóa xe máy bằng kim loại, có phần tay cầm bọc nhựa màu đen.

+ Tịch thu tiêu hủy đối với vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành, không còn giá trị sử dụng:

- 01 phong bì được niêm phong, bên ngoài ghi chữ “Các vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ sau khi cân tịnh gửi giám định”, phần mép dán có chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong và hình dấu của Cơ quan CSĐT Công an huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang.

- 01 phong bì được niêm phong, bên ngoài phong bì ghi chữ “Vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ”, mặt sau phong bì phần mép dán có chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Hà Giang.

- 01 phong bì được niêm phong, bên ngoài ghi chữ “Mẫu hoàn lại sau giám định ký hiệu A1, A2, A3”, mặt sau phong bì phần mép dán có chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Hà Giang.

- 01 (một) biển kiểm soát 33N3-9768, đã qua sử dụng.

- 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 006435, tên chủ xe PHẠM QUANG TIỀN, địa chỉ: Xuân Sơn - Sơn Tây - Hà Tây, biển kiểm soát 33N3-9768 do Công an tỉnh Hà Tây cấp ngày 02/6/2005.

Án phí: Áp dụng Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, miễn án phí HSST cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo ăn năn, hối hận về hành vi của mình.

Lời khai của người làm chứng phù hợp với lời khai của bị cáo, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Lời nói sau cùng: Bị cáo ân hận, xin HĐXX giảm nhẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố. Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện Mèo Vạc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mèo Vạc, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn C tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với các tài liệu như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; các biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản làm việc (kiểm tra, xét nghiệm tình trạng ma túy) đối với Nguyễn Văn C; biên bản mở niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản làm việc (cân tịnh và trích mẫu gửi giám định); kết luận giám định số 315/KL-KTHS ngày 29/8/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ xác định: Hồi 19 giờ 50 phút ngày 21/8/2024, tại thôn Bản Tại, xã Niêm Sơn, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang bị cáo Nguyễn Văn C có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý (cầm ở tay), tổng khối lượng ma tuý Heroine mà Nguyễn Văn C tàng trữ là 0,430 gam (không phẩy bốn trăm ba mươi gam); Nguyễn Văn C mua ma tuý về với mục đích tàng trữ để sử dụng cho cá nhân không nhằm mục đích khác. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang truy tố bị cáo Nguyễn Văn về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về chế độ quản lý các chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Chất ma tuý nói chung và heroine nói riêng là chất gây nghiện nghiêm trọng, không những huỷ hoại sức khoẻ của người mắc nghiện, hủy hoại đạo đức của con người, mà còn là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do lối sống buông thả, coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng cho cá nhân. Cần xét xử bị cáo mức án nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để giáo dục bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung.

Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Văn C là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo đã học hết lớp 9/12, có trình độ học vấn và hiểu biết xã hội nhất định, bị cáo là người chồng, người cha trong gia đình, hiểu r tác hại của việc sử dụng ma túy s ảnh hưởng đến sức khỏe, tinh thần, đời sống, kinh tế của gia đình bị cáo, xã hội nhưng do nghiện ma tuý nên để có ma tuý sử dụng, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi mua ma tuý, tàng trữ trái phép chất ma tuý nhằm sử dụng cho cá nhân. Trong vụ án bị cáo một mình thực hiện hành vi phạm tội, không có đồng phạm khác.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Nguyễn Văn C được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải); được hưởng các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (Người phạm tội là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - hội đặc biệt khó khăn).

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[8 Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Cần ra quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Về xử lí vật chứng vụ án: vật chứng cấm tàng trữ, lưu hành, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy; trả lại tài sản không liên quan đến vụ án theo quy định tại điều 47 BLHS, điều 106 BLTTHS.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo C là hành vi vi phạm hành chính, Công an huyện Mèo Vạc đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn C bằng hình thức phạt cảnh cáo là phù hợp.

Đối với hành vi thay thế vách máy dẫn đến làm mất số máy của anh Lý Văn N1 là hành vi vi phạm hành chính, ngày 07/11/2024 Công an huyện Mèo Vạc đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lý Văn N1 bằng hình thức phạt tiền với số tiền 1.400.000đ, HĐXX không đề cập.

Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra xác định Giấy chứng nhận mô tô, xe máy số 006435, tên chủ xe PHẠM QUANG TIỀN, địa chỉ: Xuân Sơn - Sơn Tây - Hà Tây, biển kiểm soát 33N3-9768 do Công an tỉnh Hà Tây cấp ngày 02/6/2005 là giả, tuy nhiên những người đã từng tham gia vào các giao dịch mua bán xe là anh Nguyễn Công C1, Lý Văn N1 và bị cáo Nguyễn Văn C không biết đó là tài liệu giả nên không đề cập xử lý về tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức. Đối với hành vi làm giả giấy chứng nhận trên, đến thời điểm kết thúc điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mèo Vạc không xác định được tổ chức, cá nhân nào làm giả nên không có căn cứ để tiếp tục giải quyết.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho C vào ngày 21/8/2024 cũng như các đối tượng trước đây đã bán ma túy cho C, quá trình điều tra cơ quan CSĐT Công an huyện Mèo Vạc đã triển khai đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ, điều tra, xác minh, truy tìm nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của những người này, Cơ quan điều tra không có căn cứ để tiến hành các biện pháp điều tra, xử lý theo quy định, Hội đồng xét xử không đề cập.

Về án phí: bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn án phí, căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016- UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội miễn án phí HSST cho bị cáo.

Đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của HĐXX.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 14 (mười bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (21/8/2024).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn văn C với thời hạn là 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

3. Vật chứng: Căn cứ Điều 106 BLTTHS, áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) chiếc phong bì màu trắng đã được niêm phong kín, bên ngoài ghi chữ “Các vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ sau khi cân tịnh gửi giám định”, phần mép dán có chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong và hình dấu của Cơ quan CSĐT Công an huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang.

+ 01 (một) chiếc phong bì màu trắng đã được niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi chữ “Mẫu hoàn lại sau giám định ký hiệu A1, A2, A3”, mặt sau phong bì phần mép dán có chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong và hình của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang (theo Kết luận giám định số 315/KL-KTHS và Biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định lập hồi 17 giờ 30 phút ngày 29/8/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang).

+ 01 (một) chiếc phong bì màu trắng đã được niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi chữ “Vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ”, mặt sau phong bì phần mép dán có chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang.

+ 01 (một) giấy đăng ký mô tô, xe máy số 006435, tên chủ xe PHẠM QUANG TIỀN, địa chỉ: Xuân Sơn – Sơn Tây – Hà Tây, biển kiểm soát 33N3-9768 do Công an tỉnh Hà Tây cấp ngày 02/5/2005 (theo Kết luận giám định số 381/Kl-KTHS ngày 23/10/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang);

+ 01 biển kiểm soát 33N3-9768.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn C:

+ 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại Wave alpha, màu sơn xanh, số khung RLHHC09084Y606982, xe đã qua sử dụng.

+ 01 (một) chiếc chìa khóa xe máy bằng kim loại, có phần tay cầm bọc nhựa màu đen.

(Tình trạng, đặc điểm chi tiết của các vật chứng, như biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/11/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang).

4. Án phí: Áp dụng điểm đ Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ án phí HSST cho bị cáo.

5. Quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331; 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (03/01/2025)./.

Cỡ chữ