vanban.org

Bản án 01/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam Tuyên án 03/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Công T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Công T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/11/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Công T - Tàng trữ TPMT. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LÝ NHÂN
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2025/HS-ST.
Ngày: 03-01-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đinh Văn An.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Quốc Tuấn và bà Lê Thị Thu Hiền

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 113/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 12 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Công T, sinh năm 1957 tại tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: Thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 08/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Tử V và bà Trần Thị C (đã chết); có vợ là Trần Thị D và có 04 con (lớn nhất sinh năm 1980, nhỏ nhất sinh năm 1990); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 15/11/2024 đến ngày 21/11/2024 chuyển tạm giam đến nay; có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Người làm chứng: Anh Trần Văn H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 45 phút ngày 15/11/2024, Tổ công tác của Công an xã N phối hợp với Công an xã N1 và Công an xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam làm nhiệm tuần tra kiểm soát tại thôn T, xã N, huyện L, phát hiện Nguyễn Công T đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, phát hiện trong lòng bàn tay phải của Nguyễn Công T đang cầm 02 đoạn ống nhựa kích thước 02x01cm gồm (01 ống nhựa màu trắng kẻ sọc màu đỏ; 01 ống nhựa màu trắng kẻ sọc màu vàng cam) được hàn kín hai đầu, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục. Tại chỗ, Nguyễn Công T khai chất bột màu trắng dạng cục trong 02 đoạn ống nhựa là ma túy, loại heroine cất giữ để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Công T, thu giữ 02 đoạn ống nhựa, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT”, sau đó làm thủ tục bản giao Nguyễn Công T cùng vật chứng đã thu giữ niêm phong đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện L để giải quyết theo pháp luật.

* Ngày 15/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện L thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Công T tại thôn T, xã N, huyện L. Kết quả khám xét: Không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì có liên quan.

* Tại bản kết luận giám định số 896/KL-KTHS ngày 20/11/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam kết luận: “Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì niêm phong ký hiệu QT gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,264 (Không phẩy hai trăm sáu mươi tư) gam, loại: Heroine”.

* Về nguồn gốc Heroine thu giữ, Nguyễn Công T khai: Khoảng 06 giờ 45 phút ngày 15/11/2024, T đi bộ từ nhà đến khu vực chợ Chều thuộc xã N, huyện L thì gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi mặc quần áo tối màu, đeo khẩu trang (không rõ nhân thân, lai lịch) và mua ma túy của người này với số tiền 400.000 đồng rồi cầm số ma túy đã mua ở lòng bàn tay phải sau đó đi tìm nơi để sử dụng, thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.

* Về vật chứng đã thu giữ: Đối với số Heroine được niêm phong trong phong bì số 896/KTHS ghi “Mẫu vật hoàn trả QT” được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lý Nhân.

* Quá trình điều tra, Nguyễn Công T đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện trong vụ án.

Tại bản cáo trạng số 09/CT-VKSLN ngày 19/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, đã truy tố Nguyễn Công T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như cáo trạng đã nêu, không có ý kiến bổ sung. Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như yếu tố nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử (Sau đây viết tắt là: HĐXX): Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nguyễn Công T từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; đồng thời đề xuất hướng xử lý vật chứng hiện đang thu giữ.

- Bị cáo Nguyễn Công T đã thừa nhận và khai báo toàn bộ diễn biến hành vi cất giấu trái phép chất ma tuý của bản thân vào sáng ngày 15/11/2024 đúng như nội dung bản cáo trạng đã mô tả. Bị cáo xác định việc mua và cất giấu số ma tuý trên là để sử dụng cho bản thân, không có bất kỳ mục đích nào khác. Bị cáo là người đã sử dụng ma túy từ lâu (từ năm 1993), nhiều lần mua ma túy để sử dụng nhưng không nhớ người bán và lượng ma túy đã mua. Bị cáo không có ý kiến gì đối với các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng, kết luận giám định và lời khai của người tham gia tố tụng khác, cũng như không có ý kiến bào chữa và tranh luận gì đối với cáo buộc của Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục và căn cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong các giai đoạn tố tụng đã thực hiện và ban hành đều hợp pháp, tuân thủ các nguyên tắc tố tụng, cũng như đảm bảo việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm được giao theo quy định.

Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Công T tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định về ma tuý và lời khai của người làm chứng, cũng như chính lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập theo trình tự luật định, phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở pháp lý kết luận: Hồi 06 giờ 45 phút ngày 15/11/2024, tại thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam; Nguyễn Công T đang cất giữ trái phép 0,264 (không phẩy hai trăm sáu mươi tư) gam ma túy, loại Heroine trong lòng bàn tay phải với mục đích để sử dụng, thì bị Tổ công tác của Công an xã N phối hợp với Công an xã N1 và Công an xã C, huyện L phát hiện bắt quả tang.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Công T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đảm bảo căn cứ pháp luật.

Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với chất ma tuý, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, ảnh hưởng xấu tới kỷ cương pháp luật, chuẩn mực đạo đức, lối sống, là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Bản thân bị cáo là người cao tuổi nhưng lại thiếu gương mẫu, sống tự do buông thả nên đã sa vào nghiện ngập ma túy, dẫn đến phạm tội. Vì vậy, cần thiết phải xử lý nghiêm, áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc đối với bị cáo, mới có tác dụng cải tạo,giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, cũng như răn đe, phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội, đặc biệt là tội phạm về ma tuý trong tình hình hiện nay tại địa phương.

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội; bản thân bị cáo là người cao tuổi (67 tuổi) nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. HĐXX sẽ xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo yên tâm cải tại, sớm trở về đoàn tụ cùng gia đình, cũng như thấy được tính nhân đạo của pháp luật đối với người phạm tội.

Xét thấy, cần tiếp tục tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án nên Quyết định tạm giam bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án theo Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét mục đích phạm tội của bị cáo không để thu lợi bất chính nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại Điều 35 và khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng: Số Heroine thu giữ của bị cáo cùng bao gói hoàn trả sau giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam, là chất Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu và tiêu huỷ.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Về các vấn đề khác: Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Công T khai đã mua trái phép ma tuý của một người đàn ông không quen biết ở khu vực chợ Chều thuộc xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam. HĐXX xét thấy, ngoài lời khai duy nhất của bị cáo, không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh nên không có căn cứ để xác minh, xử lý người này theo quy định của pháp luật, do đó HĐXX không đề cập.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Công T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Công T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/11/2024.

[2]. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu và tiêu huỷ: 01 (Một) phong bì niêm phong có số 896/KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam, ghi “Mẫu vật hoàn trả QT”.

(Vật chứng có đặc điểm, tình trạng, số hiệu được ghi trong biên bản bàn giao vật chứng lập ngày 20/12/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Lý Nhân với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lý Nhân).

[3] Căn cứ Điều 135, 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

- Án phí hính sự sơ thẩm: Bị cáo cho Nguyễn Công T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

- Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ