- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn Đ - Hủy hoại rừng - phạm tội hủy hoại rừng (điều 243 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Đ phạm tội hủy hoại rừng.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÌNH LẬP TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2025/HS-ST Ngày 13-01-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÌNH LẬP, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Duy
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hoàng Thị Thanh Hòa
Ông Sầm Trí Đạt
- Thư ký phiên tòa: Ông Lý Minh Quang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:
Hoàng Văn Đ, sinh ngày 13 tháng 9 năm 1978 tại xã B, huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn; Nơi cư trú: thôn P, xã B, huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 5/12; con ông Hoàng Văn H (đã chết) và bà Lê Thị V (đã chết); vợ Hoàng Thị Th và 04 con; tiền án: Không có, tiền sự: Không có; nhân thân: Không bị kết án, xử phạt hành chính, xử lý kỷ luật; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/8/2024 đến nay. Có mặt.
- Nguyên đơn dân sự: Ủy ban nhân dân huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T – Phó Trưởng phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn. (Theo quyết định ủy quyền tham gia tố tụng trong vụ án hình sự số 2994/QĐ-UBND ngày 24/10/2024 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn). Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Chị Hoàng Thị Th, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn P, xã B, huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
2. Ông Hoàng Văn Ph, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn B, xã K, huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
- Người làm chứng:
1. Ông Hoàng Văn S, sinh năm 1989. Có mặt.
2. Anh Hoàng Văn Ph, sinh năm 2002; Có mặt.
3. Ông Hoàng A D, sinh năm 1975; Vắng mặt.
4. Anh Vừ A A, sinh năm 2004; Vắng mặt.
5. Ông Nông Đức H, sinh năm 1986; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 00 phút, ngày 20/4/2024 Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế, tham nhũng, buôn lậu, môi trường, Công an tỉnh Lạng Sơn phối hợp với Công an huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn kiểm tra phát hiện tại khu rừng thuộc Thôn B, xã K, huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn có nhóm đối tượng gồm: Hoàng Văn Đ, Hoàng Văn S, Hoàng Văn Ph, Hoàng A D, Sùng A Dù, Vừ A A đang có hành vi cắt khúc và vận chuyển gỗ rừng tự nhiên lên xe ô tô nhưng không có giấy phép của cơ quan chức năng.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng đầu tháng 4 năm 2024, Hoàng Văn Đ nghe cô ruột nói khoảng năm 1950-1960 bố đẻ của Hoàng Văn Đ có canh tác rừng ở khu đồi Kh thuộc Thôn B, xã K, huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn nhưng không biết vị trí cụ thể. Vì vậy, ngày 05/4/2024, Hoàng Văn Đ có thuê 03 người không biết rõ họ tên và địa chỉ cụ thể với giá tiền công là 250.000 đồng/01 người/ 01 ngày, dùng cưa máy để cắt hạ và cắt khúc các cây gỗ có đường kính gốc từ 16cm đến 60cm tại khu đồi trên. Khoảng 01 tuần sau, Hoàng Văn Đ thuê Hoàng A D, Sùng A Dù, Vừ A A, Hoàng Văn S tiếp tục việc khai thác tại khu rừng nêu trên với giá tiền công là 250.000 đồng/01 người/01 ngày.
Ngày 19 và 20/4/2024 Hoàng Văn Đ thuê Hoàng Văn Ph điều khiển máy đào bánh xích nhãn hiệu DOSAN gắp gỗ đã khai thác được lên xe ô tô biển kiểm soát 12H-01288 của mình, đồng thời thuê Nông Đức H điều khiển xe ô tô để chở gỗ về bãi đất ở thôn P, xã B, huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn thì bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt quả tang trên xe có 4,088m3 gỗ, còn lại 10,551 m3 vẫn để tại hiện trường.
Kết quả khám nghiệm hiện trường và kết quả kiểm tra kiểm đếm tại hiện trường xác định: Có 03 vị trí rừng bị chặt phá kí hiệu là S1, S2, S3. Vị trí S1 thuộc một phần thửa đất số 135, khoảnh 13 Tiểu khu 467 tờ bản đồ địa chính số 01 xã K có diện tích là 4.727m2, có 24 cây các loại đường kính gốc từ 30cm-60cm đã bị chặt hạ. Vị trí S2 có diện tích là 2.260 m2 thuộc một phần thửa số 135, khoảnh 13, tiểu khu 467 tờ bản đồ địa chính số 01 xã K, có 32 cây đường kính gốc từ 18-56 cm đã bị chặt hạ. Vị trí S3 có diện tích là 618 m2 thuộc một phần thửa đất số 118, khoảnh 13, tiểu khu 467 tờ bản đồ địa chính 01 xã K có 03 cây trám đã bị chặt hạ đường kính gốc lần lượt là 46, 49, 60cm.
Biên bản xác minh ngày 20/6/2024 tại Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh huyện Đình Lập: Cả hai thửa đất trên đều quy hoạch đất rừng sản xuất. Thửa đất số 135, tờ bản đồ địa chính 01 xã K, tổng diện tích là 251.074,0m2, ngày 30/03/2012 Uỷ ban nhân dân huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 299313 cho ông Hoàng Văn Ph tại Thôn B, xã K, huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn. Thửa đất số 118, khoảnh 13, tiểu khu 467, tờ bản đồ địa chính 01 chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân, tổ chức nào, hiện do Uỷ ban nhân dân xã K, huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn quản lý.
Tại Kết luận giám định tư pháp trong l nh vực lâm nghiệp số 03-2024/KL/GĐCN, ngày 30/6/2024, kết luận: Toàn bộ diện tích có cây rừng bị chặt phá tại 03 vị trí: vị trí S1, S2 thuộc thửa đất 135, khoảnh 13, tiểu khu 467; vị trí S3 thuộc thửa đất 118 khoảnh 13, tiểu khu 467 tờ bản đồ địa chính 01 xã K; thuộc lô 02, khoảnh 13, tiểu khu 467, bản đồ hiện trạng rừng năm 2023 xã K
Về trạng thái rừng: Theo bản đồ hiện trạng rừng năm 2023 xã K, huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn trạng thái rừng thể hiện trên bản đồ TXN (rừng nghèo kiệt). Tuy nhiên, qua kết quả kiểm tra thực tế tại hiện trường. Căn cứ theo Phụ lục I, phân chia trạng thái rừng ban hành kèm theo thông tư số 33/2018/TT-BNN&PTNT, ngày 16/11/2018 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Quy định về điều tra, kiểm kê và theo dõi diễn biến rừng: Diện tích bị chặt phá tại lô 02, khoảnh 13, tiểu khu 467 thuộc Thôn B, xã K, huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn thuộc trạng thái “rừng tự nhiên nghèo kiệt” có ký hiện là TXK.
Đối với diện tích 6.987m2 bị thiệt hại tại 02 vị trí S1 và S2: Trước khi bị chặt phá là “rừng tự nhiên nghèo kiệt" (10<M<50), có ký hiệu là: TXK. Sau khi bị chặt phá diện tích trên không đủ tiêu chí là rừng tự nhiên theo quy định tại Điều 4, Nghị định số 156/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp.
Đối với diện tích 618 m2 bị thiệt hại tại vị trí S3: Trước khi bị chặt phá là “rừng tự nhiên nghèo kiệt" (10<M<50), có ký hiệu là: TXK. Sau khi bị chặt phá diện tích trên vẫn đủ tiêu chí là rừng tự nhiên theo quy định tại Điều 4, Nghị định số 156/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp.
Loại rừng bị chặt phá: Toàn bộ diện tích có cây rừng bị chặt phá tại các vị trí S1, S2, S3. Đối chiếu diện tích có rừng bị chặt phá với bản đồ điều chỉnh quy hoạch 03 loại rừng xã K, huyện Đình Lập năm 2020 theo Quyết định số 687/QĐ-UBND ngày 24/4/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn về việc phê duyệt đề án rà soát, điều chỉnh ranh giới ba loại rừng tỉnh Lạng Sơn đến năm 2023 thì toàn bộ diện tích rừng bị chặt phá thuộc quy hoạch “rừng sản xuất”.
Kết luận định giá tài sản số 31/KL-HĐĐGTS ngày 12/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đình Lập kết luận: 39 khúc gỗ tròn có khối lượng 10,55m3 có giá trị là 5.803.050 đồng; 63 khúc gỗ tròn có khối lượng 12,129m3 có giá trị là 7.638.750 đồng; 15 khúc gỗ tròn có khối lượng 4,088m3 có giá trị là 2.452.800 đồng. Không có cơ sở để xác định giá trị thiệt hại về môi trường.
Kết luận định giá tài sản số 44/KL-HĐĐGTS ngày 12/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đình Lập kết luận: Xe ô tô tải nhãn hiệu FAW, BKS 12H-012.88 có giá trị còn lại là 404.140.000 đồng. Máy cưa xích cầm tay nhãn hiệu Husqvarna có giá trị sử dụng còn lại là 960.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 28/CT-VKSĐL ngày 28/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Hoàng Văn Đ về tội hủy hoại rừng, theo điểm b, khoản 1 Điều 243 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Đ phạm tội hủy hoại rừng.
- Về hình phạt chính đề nghị: Áp dụng điểm b, khoản 1, Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Đ từ 18 đến 22 tháng tù cho hưởng án treo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo Hoàng Văn Đ đã bồi thường thiệt hại về tài sản cho Ủy ban nhân dân huyện Đình Lập tổng số tiền là 13.441.800 đồng.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về xử lý vật chứng: Áp Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) xe ô tải nhãn hiệu FAW, biển kiểm soát 12H-012.88, số khung RLDTD72YCNDE00829, số máy YC4D14048D58Y1N00124, xe cũ đã qua sử dụng; 63 khúc gỗ tròn khối lượng 12,129m3; 01 (một) cưa xích cầm tay nhãn hiệu Husqvarna Special 365, máy cũ đã qua sử dụng. Chuyển xử lý hành chính 15 khúc gỗ tròn có khối lượng 4,088m3.
Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Nguyên đơn dân sự có ý kiến: Bị cáo đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nên cần xử lý theo quy định của pháp luật. Đối với số tang vật đã thu giữ đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước. Về trách nhiệm dân sự yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho Ủy ban nhân dân huyện Đình Lập theo giá trị mà hội đồng định giá đã quyết định.
Bà Hoàng Thị Th có ý kiến: Chiếc xe ô tô là tài sản chung của vợ chồng, việc chồng bà mang xe đi chở gỗ bà không biết nên bà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại chiếc xe ô tô cho gia đình.
Ông Hoàng Văn Ph có ý kiến: Diện tích đất rừng mà bị cáo Hoàng Văn Đ vào khai thác cây đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông nhưng ông không xác định được ranh giới cụ thể. Gia đình ông cũng không quản lý đến diện tích đất có các cây rừng tự nhiên mà bị cáo Hoàng Văn Đ đã khai thác. Việc Hoàng Văn Đ vào khai thác cây ông không biết, tại phiên tòa ông cũng không có yêu cầu đề nghị gì.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản kiểm tra hiện trường, kết luận giám định và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở để khẳng định: Đầu tháng 4 năm 2024 Hoàng Văn Đ có hành vi thuê người chặt phá cây rừng tự nhiên trái phép với diện tích 6.987m2, ký hiệu là vị trí S1, S2, thuộc một phần thửa đất số 135, khoảnh 13, tiểu khu 467 tờ bản đồ địa chính 01 thuộc địa phận Thôn B, xã K, huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn và thuộc lô 02, khoảnh 13, tiểu khu 467 theo Bản đồ hiện trạng rừng năm 2023 xã K. Khối lượng gỗ bị chặt hạ là 22,697m3, gây thiệt hại về lâm sản là 13.441.800 đồng. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Hoàng Văn Đ phạm tội "Hủy hoại rừng” tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 243 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã xâm phạm đến chế độ quản lý rừng của nhà nước, xâm phạm nghiêm trọng đến môi trường sinh thái, gây ra những hậu quả nghiêm trọng khác cho đời sống xã hội, vì vậy hành vi của bị cáo cần xử lý nghiêm minh trước pháp luật, nhằm mục đích giáo dục bị cáo ý thức tuân thủ pháp luật, đồng thời để đấu tranh phòng ngừa đối với loại tội phạm này.
Để có căn cứ quyết định hình phạt ngoài việc xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Về nhân thân: Tại trích lục tiền án, tiền sự xác định ngày 27/6/2014, bị cáo có hành vi vận chuyển trái phép lâm sản trái phép bị Đội quản lý thị trường số 01 tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính 10.000.000đồng (mười triệu đồng). Tuy nhiên theo xác minh tại Cục quản lý thị trường tỉnh Lạng Sơn, xác định trong năm 2014 lực lượng quản lý thị trường tỉnh Lạng Sơn không bắt giữ, xử lý trường hợp công dân nào có tên Hoàng Văn Đ, sinh năm 1978, trú tại thôn P, xã B, huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn. Tại phiên tòa bị cáo cho rằng bản thân bị cáo chưa từng bị cơ quan quản lý thị trường xử phạt vi phạm hành chính, do vậy không có căn cứ để xác định bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính. Vì vậy, cần xác định bị cáo là người có nhân thân tốt.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả với số tiền 13.441.800 đồng. Tại phiên tòa bị cáo khai hiện nay bị cáo là lao động chính trong gia đình, đang nuôi 04 con nhỏ đang trong độ tuổi đi học. Ngoài ra, bị cáo còn có bố đẻ là ông Hoàng Văn H được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng Nhất; năm 2002 gia đình bị cáo hiến 90m2 đất cho trường Mầm Non II xã B; năm 2023 gia đình bị cáo hiến 40m2 đất để Uỷ ban nhân dân xã B làm đường sang khu di tích của xã. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có.
Bị cáo Hoàng Văn Đ ngoài lần phạm tội này luôn tôn trọng các quy tắc xã hội, chấp hành chính sách pháp luật; có nơi cư trú rõ ràng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách cũng đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo. Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo điều kiện kinh tế khó khăn, không có việc làm ổn định, đang nuôi 04 con nhỏ như đã nhận định ở trên nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Ghi nhận bị cáo Hoàng Văn Đ đã bồi thường thiệt hại về tài sản cho Ủy ban nhân dân huyện Đình Lập với số tiền là 13.441.800 đồng.
Về xử lý vật chứng gồm: 01 (một) xe ô tải nhãn hiệu FAW, biển kiểm soát 12H-012.88, số khung RLDTD72YCNDE00829, số máy YC4D14048D58Y1N00124, xe cũ đã qua sử dụng; 63 khúc gỗ tròn khối lượng 12,129m3; 01 (một) cưa xích cầm tay nhãn hiệu Husqvarna Special 365, máy cũ đã qua sử dụng. Đây là các công cụ, phương tiện, vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tịch thu hóa giá sung ngân sách nhà nước.
[12) Đối với số gỗ còn lại tại hiện trường là 10,551m3 qua xác minh xác định số gỗ này đã mục, không còn giá trị sử dụng. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
Đối với 15 khúc gỗ tròn có khối lượng 4,088m3 được khai thác tại vị trí S3 có diện tích là 618 m2 thuộc một phần thửa đất số 118, khoảnh 13, tiểu khu 467 tờ bản đồ địa chính 01 xã K. Do hành vi khai thác của bị cáo tại vị trí này chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị chuyển sang xử lý hành chính đối với bị cáo. Xét thấy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với 01 máy đào bánh xích hiệu DOSAN tạm giữ của anh Hoàng Văn Ph. Anh Hoàng Văn Ph khai được bị cáo thuê gắp gỗ lên xe ô tô, khi đưa máy đào bánh xích từ hiện trường về trụ sở Uỷ ban nhân dân xã K để làm việc thì máy bị tuột xích không di chuyển được, do đó tổ công tác đã giao cho anh Hoàng Văn Ph tự quản lý và bảo quản. Ngày 18/10/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại tài sản cho anh Hoàng Văn Ph. Tại phiên tòa anh Hoàng Văn Ph cho biết đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đề nghị của bà Hoàng Thị Th, Hội đồng xét xử sẽ xem xét và quyết định theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn về tội danh, mức hình phạt và xử lý vật chứng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b, khoản 1, Điều 243; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào điểm a, khoản 1, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 293; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ vào Điều 584; Điều 585; Điều 589 của Bộ luật Dân sự.
Căn cứ vào điểm a, g khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Đ phạm tội hủy hoại rừng.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (13/01/2025).
Giao bị cáo Hoàng Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã B, huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm ngh a vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Ghi nhận bị cáo Hoàng Văn Đ đã tự nguyện bồi thường thiệt hại về tài sản cho Ủy ban nhân dân huyện Đình Lập tổng số tiền là 13.441.800 đồng (mười ba triệu bốn trăm bốn mươi mốt nghìn tám trăm đồng). Xác nhận bị cáo đã nộp số tiền trên tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đình Lập theo biên lai thu tiền số 0002779 ngày 10/12/2024.
4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu hóa giá sung ngân sách nhà nước: 01 (một) xe ô tải nhãn hiệu FAW, biển kiểm soát 12H-012.88, số khung RLDTD72YCNDE00829, số máy YC4D14048D58Y1N00124, xe cũ đã qua sử dụng; 63 (sáu mươi ba) khúc gỗ tròn có khối lượng 12,129m3; 01 (một) cưa xích cầm tay nhãn hiệu Husqvarna Special 365, máy cũ đã qua sử dụng.
(Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đình Lập với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn).
5. Về án phí: Buộc bị cáo Hoàng Văn Đ phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn; - Công an huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn; - CCTHADS huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn; - Bị cáo; - Nguyên đơn dân sự; - Người có QL&NVLQ; - Lưu: Hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Duy |