| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA B TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2025/HNGĐ-ST Ngày: 17/01/2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA B
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thạch Thiên Hà
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Đăng Đán
2. Bà Trần Thị Lịch
- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Duy Khải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gia B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia B, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Phùng Đức Dũng- Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia B mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 29/2024/TLST-HNGĐ ngày 14/11/2024 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 02/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Gia B, giữa các đương sự.
Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Hải N, sinh năm 2000, trú tại: Thôn Gia P, xã Bình D, huyện Gia B, tỉnh Bắc Ninh. (có mặt)
Bị đơn: Anh Đồng Văn Đ, sinh năm 1996, trú tại: Thôn Gia P, xã Bình D, huyện Gia B, tỉnh Bắc Ninh. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai của nguyên đơn, bị đơn có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa hôm nay, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyên đơn – chị Hoàng Thị Hải N trình bày:
Chị Hoàng Thị Hải N kết hôn với anh Đồng Văn Đ vào ngày 27/4/2018 tại UBND xã Bình D, huyện Gia B, tỉnh Bắc Ninh. Trước khi kết hôn hai vợ chồng có được tự nguyện tìm hiểu. Sau ngày cưới, chị Ninh và anh Đ dọn về ở chung với nhau, thời gian ban đầu vợ chồng chung sống hòa thuận.
Đến khoảng thời gian giữa năm năm 2024 thì chị và anh Đ phát sinh mâu thuẫn và từ đó đến nay hai vợ chồng tôi đã sống ly thân, lý do của mâu thuẫn là hai vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, nếp sống không hòa hợp. Mâu thuẫn của hai vợ chồng cũng được hai gia đình hoà giải nhiều lần nhưng chưa có kết quả và từ thời điểm đó đến nay chị Ninh và anh Đ đã sống ly thân. Hiện chị Ninh thấy tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ nên chị Ninh nộp đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Đồng Văn Đ.
Về con chung: Chị N và anh Đ có với nhau 04 con chung là: Đồng Bảo L, sinh ngày 24/01/2017; Đồng Thị Bảo V, sinh ngày 13/05/2018; Đồng Bảo Tr, sinh ngày 20/7/2019; Đồng Bảo Uyên, sinh ngày 09/8/2023. Khi ly hôn chị Ninh muốn xin nuôi cháu Đồng Bảo Uyên, đối với cháu Đồng Bảo L thì chị Ninh sẽ tôn trọng quyết định của cháu, hai cháu còn lại là cháu Đồng Thị Bảo V và cháu Đồng Bảo Tr sẽ do anh Đ nuôi dưỡng, hiện tại chị N không mang thai. Chị N không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung. Tại phiên tòa, chị N tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung đối với cháu Đồng Bảo L 2.000.000 đồng/tháng kể từ thời điểm ly hôn cho đến khi cháu L đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn – anh Đồng Văn Đ trình bày:
Anh Đồng Văn Đ kết hôn với chị Hoàng Thị Hải N vào ngày 27/4/2018 tại UBND xã Bình D, huyện Gia B, tỉnh Bắc Ninh. Trước khi kết hôn hai vợ chồng có được tự nguyện tìm hiểu. Sau ngày cưới, chị N và anh Đ dọn về ở chung với nhau, thời gian ban đầu vợ chồng chung sống hòa thuận.
Đến khoảng thời gian tháng 6 năm 2024 thì hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và từ đó đến nay hai vợ chồng đã sống ly thân, lý do của mâu thuẫn là hai vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, nếp sống không hòa hợp. Mâu thuẫn của hai vợ chồng cũng được hai gia đình hoà giải nhiều lần nhưng chưa có kết quả. Tuy vậy hiện tại anh Đ thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn, vẫn có khả năng đoàn tụ nên anh Đ không đồng ý với yêu cầu ly hôn của chị Hoàng Thị Hải N.
Về con chung: Anh Đ và chị N có với nhau 04 con chung là: Đồng Bảo L, sinh ngày 24/01/2017; Đồng Thị Bảo V, sinh ngày 13/05/2018; Đồng Bảo Tr, sinh ngày 20/7/2019; Đồng Bảo U, sinh ngày 09/8/2023. Hiện tại chị N không mang thai. Anh Đ không đồng ý với yêu cầu ly hôn của chị Ninh và anh Đ sẽ tuân theo phán quyết của Tòa án. Tr hợp sau khi xét xử hai vợ chồng ly hôn thì anh Đ muốn nuôi các cháu Đồng Thị Bảo V, Đồng Bảo Tr, chị Ninh sẽ nuôi cháu Đồng Bảo Uyên Còn cháu Đồng Bảo L sinh ngày 24/01/2017, anh Đ sẽ tôn trọng quyết định của cháu. Tại phiên tòa, anh Đ đề nghị chị N phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Đồng Bảo L 2.000.000 đồng/tháng kể từ thời điểm ly hôn cho đến khi cháu L đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà kiểm sát viên VKSND huyện Gia B phát biểu ý kiến: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39 và Điều 147 BLTTDS. Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 - Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án
Về đường lối giải quyết vụ án:
Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Hoàng Thị Hải N và anh Đồng Văn Đ đã trầm trọng, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị Hải N, cho chị Hoàng Thị Hải N được ly hôn với anh Đồng Văn Đ.
Về con chung:
Giao cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Đồng Bảo Uyên sinh ngày 09/8/2023. Giao cho anh Đồng Văn Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là các cháu Đồng Bảo L, sinh ngày 24/01/2017; Đồng Thị Bảo V, sinh ngày 13/05/2018; Đồng Bảo Tr, sinh ngày 20/7/2019. Chị Ninh có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Đồng Bảo L 2.000.000 đồng/tháng kể từ thời điểm ly hôn cho đến khi cháu L đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, công nợ: Do các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Hải N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời trình bày của các bên đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tố tụng:
Yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Hoàng Thị Hải N được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Đồng Văn Đ có nơi thường trú, cư trú tại xã Bình D, huyện Gia B, tỉnh Bắc Ninh. Do vậy Tòa án nhân dân huyện Gia B thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1, điều 28; điều 35; điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Chị Ninh kết hôn với anh Đ vào ngày 27/4/2018, đã tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phía chị Ninh trình bày từ khoảng giữa năm 2024 thì vợ chồng chị thường xuyên xuất hiện mâu thuẫn, lý do của mâu thuẫn chủ yếu xuất phát từ sự bất đồng trong nếp sống, các quan điểm sống không phù hợp. Mâu thuẫn tuy đã được hai bên gia đình giải quyết nhưng không đạt được kết quả, khoảng cách hai vợ chồng ngày càng trở lên xa cách và hai vợ chồng cũng đã sống ly thân kể từ khoảng giữa năm 2024 cho đến nay. Phía anh Đ trình bày anh thấy tuy rằng vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nhưng chỉ là nhỏ nhặt và vẫn có thể giải quyết được, tình cảm vợ chồng vẫn còn và vẫn có khả năng đoàn tụ. Chị Ninh giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Đ, anh Đ không đồng ý với yêu cầu của chị Ninh. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị Ninh, anh Đ đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần xử cho chị Ninh được ly hôn anh Đ là phù hợp pháp luật.
Về con chung: Chị Ninh và anh Đ có với nhau 04 con chung là: Đồng Bảo L, sinh ngày 24/01/2017; Đồng Thị Bảo V, sinh ngày 13/05/2018; Đồng Bảo Tr, sinh ngày 20/7/2019; Đồng Bảo Uyên, sinh ngày 09/8/2023. Hiện tại chị Ninh không mang thai. Do cháu Đồng Bảo Uyên chưa đủ 36 tháng tuổi nên căn cứ theo quy định của khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình cần xử giao cho chị Ninh trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Đối với con chung là các cháu Đồng Thị Bảo V và Đồng Bảo Tr, chị Ninh đề nghị giao hai cháu cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng, anh Đ đồng ý. Do hai cháu đã ở với anh Đ từ khi chị Ninh và anh Đ ly thân từ khoảng giữa năm 2024 cho đến nay, hai cháu được giáo dục, nuôi dạy tốt và được học hành đầy đủ nên xét cần giao cho anh Đ tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục hai cháu V và cháu Tr. Đối với con chung là cháu Đồng Bảo L, do cháu đã trên 07 tuổi nên Tòa án nhân dân huyện Gia B đã tiến hành lấy ý kiến để xem xét nguyện vọng của cháu L theo quy định của khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, theo đó cháu L có nguyện vọng muốn ở với bố là anh Đồng Văn Đ sau khi bố mẹ của cháu là anh Đ và chị Ninh ly hôn, chị Ninh và anh Đ cũng đồng ý với ý kiến của cháu nên cần giao cháu L cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con chung ghi nhận sự tự nguyện của chị Hoàng Thị Hải N vè nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là chấu Đồng Bảo L mức 2.000.000 đồng /1 tháng kể từ thời điểm ly hôn cho đến khi cháu L đủ 18 tuổi là phù hợp pháp luật.
Về tài sản chung, công nợ: Không xem xét giải quyết do chị Ninh không có yêu cầu.
Về án phí: Chị Ninh phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND huyện Gia B; - Chi cục THADS huyện Gia B; - Đương sự; - UBND xã Bình D; - Lưu hs. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thạch Thiên Hà |