- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn giữa chị Trần Hải Âu và anh Nguyễn Hoàng Long"
- Tòa quyết gì? 1/. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Trần Hải A và anh Nguyễn Hoàng L.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2025/HNGĐ -ST Ngày: 08/7/2025 (V/v Tranh chấp ly hôn) |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thạch Thị Ngọc Bích
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tâm và ông Nguyễn Minh Hoàng
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Mộng Nghi – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cà Mau.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Cà Mau tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thúy Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 7 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 221/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
1/. Nguyên đơn: Chị Trần Hải A, sinh năm 1999
Địa chỉ: ấp 1, thị trấn Gành H, huyện Đ H, tỉnh Bạc Liêu (nay là ấp 1, xã Gành H, tỉnh Cà Mau)
2/. Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1991
Địa chỉ: ấp 1, thị trấn Gành Ho, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu (nay là ấp 1, xã Gành H, tỉnh Cà Mau).
(Chị A và anh L có đơn xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 12/5/2025, lời khai trong quá trình tố tụng, chị Trần Hải A và anh Nguyễn Hoàng L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh chị chung sống với nhau vào năm 2019, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Gành H (nay là xã Gành H) và đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật.
Nguyên nhân ly hôn chị A và anh L xác định: Trong thời gian chung sống anh chị thường xuyên mâu thuẫn cãi vả, khiến cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, chị A về nhà cha mẹ ruột sống khoảng 03 năm nay, không còn quan tâm nhau, không tìm được biện pháp hàn gắn cuộc sống vợ chồng. Nay anh chị xác định vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau nên chị A yêu cầu ly hôn thì anh L cũng đồng ý.
Về con chung: Chị A và anh L thống nhất xác định anh chị có 01 người con chung tên Nguyễn Hải V, sinh ngày 06/10/2020, hiện nay đang sống chung với chị A. Khi ly hôn chị A và anh L thống nhất thỏa thuận giao con cho chị A nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng: Chị A và anh L không yêu cầu.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị A và anh L xác định anh chị không có tài sản chung và không có nợ chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và của nguyên đơn, bị đơn là đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Chị A và anh L kết hôn hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nhưng do thời gian chung sống anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn không hàn gắn được. Chị A và anh L xác định vợ chồng không hàn gắn được và không thể tiếp tục chung sống với nhau nên thống nhất ly hôn, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình công nhận thuận tình ly hôn giữa chị A và anh L.
Về con chung: Chị A và anh L thống nhất xác định anh chị có 01 người con chung tên Nguyễn Hải V, sinh ngày 06/10/2020, hiện nay đang sống chung với chị A. Khi ly hôn chị A và anh L thống nhất thỏa thuận giao con cho chị A nuôi dưỡng nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về cấp dưỡng: Chị A và anh L không yêu cầu.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị A và anh L xác định anh chị không có tài sản chung và không có nợ chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân gia đình: Chị A tự nguyện nộp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và trên cơ sở phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Trần Hải A ền có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết về việc tranh chấp ly hôn với anh Nguyễn Hoàng L. Anh L có địa chỉ cư trú tại ấp 1, xã Gành H. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 8 - Cà Mau.
Chị A và anh L có đơn yêu cầu được vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung vụ án: Chị A và anh L chung sống với nhau vào năm 2019, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Gành H (nay là xã Gành H) cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Xét yêu cầu ly hôn của chị A và anh L , Hội đồng xét xử thấy rằng mục đích của hôn nhân là để tạo dựng một gia đình hạnh phúc, vợ chồng phải biết yêu thương, quý trọng, chăm sóc nhau, giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Nhưng trong thời gian chung sống chị A và anh L xãy ra mâu thuẫn, hiện nay anh chị không còn quan tâm nhau cũng không có biện pháp hàn gắn cuộc sống vợ chồng nên chị A yêu cầu ly hôn thì anh L cũng đồng ý. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình công nhận thuận tình ly hôn của anh chị.
Về con chung: Chị A và anh L thống nhất xác định anh chị có 01 người con chung tên Nguyễn Hải V, sinh ngày 06/10/2020, hiện nay đang sống chung với chị A. Khi ly hôn chị A và anh L thống nhất thỏa thuận giao con cho chị A nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của đương sự.
Về cấp dưỡng: Chị A và anh L không yêu cầu.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị A và anh L thống nhất xác định anh chị không có tài sản chung và không có nợ chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Án phí hôn nhân gia đình: Chị A tự nguyện nộp thay cho anh L.
Quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp, được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 51, 55, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 3 Điều 11 Nghị quyết 01/2024/NQ – HĐTP ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1/. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Trần Hải A và anh Nguyễn Hoàng L.
2/. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Hải V, sinh ngày 06/10/2020 cho chị Trần Hải A tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Anh Nguyễn Hoàng L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được quyền cản trở.
3/. Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
4/. Về án phí: Chị Trần Hải A tự nguyện nộp 150.000 đồng, chị A đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng ngày 15 tháng 5 năm 2025 theo biên lai thu số 0006813 được chuyển thu án phí 150.000 đồng. Hoàn lại cho chị Trần Hải A số tiền 150.000 đồng tại Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho chị Trần Hải A và anh Nguyễn Hoàng L được biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND khu vực 8 – Cà Mau; - THADS tỉnh Cà Mau; - UBND xã Gành H; - Các đương sự; - Lưu HS vụ án; | Thạch Thị Ngọc Bích |