vanban.org

Bản án 01/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của Đỗ Thị Kim Ch.

Về con Ch: Giao 02 con Ch tên tên Hồ Thị Ngọc Tr1, sinh ngày 26/7/2007 và Hồ Thị Ngọc Tr, sinh ngày 06/3/2009 cho bà Đỗ Thị Kim Ch trực tiếp nuôi đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con. Ông Hồ Sỹ T được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quy… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của Đỗ Thị Kim Ch.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 - ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2025/HNGĐ-ST
Ngày 15/7/2025
Về việc ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Mai Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nông Thị Giới

Bà Vũ Thị Dung

Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Nhàn - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10

- Đồng Nai

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Minh Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2025, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân thị xã Bình Long (nay là Toà án nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai), xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 27/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2025 về tranh chấp: Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 12/2025/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Kim Ch, sinh năm 1983 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ 01, ấp Ph, xã M, tỉnh Đồng Nai

- Bị đơn: Ông Hồ Sỹ T, sinh năm 1983 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ 06, ấp 17, phường A, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 04/4/2025 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đỗ Thị Kim Ch trình bày:

Bà Đỗ Thị Kim Ch và ông Hồ Sỹ T sau thời gian tìm hiểu, tự nguyện Ch sống năm 2005 và đăng ký kết hôn lần đầu vào ngày 13/6/2006, tại Ủy ban nhân dân xã T1, huyện B, tỉnh Bình Phước (nay là Uỷ ban nhân dân phường A, tỉnh Đồng Nai). Sau khi hết hôn bà Đỗ Thị Kim Ch và ông Hồ Sỹ T cùng Ch sống với nhau tại tổ 01, ấp Ph, xã M, tỉnh Đồng Nai.

Vợ chồng Ch sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do ông T không quan tâm đến gia đình, vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau, hôn nhân không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, ông bà đã ly thân với nhau từ năm 2020, bà Đỗ Thị Kim Ch vẫn sinh sống tại địa chỉ tổ 01, ấp Ph, xã M, tỉnh Đồng Nai, còn ông Hồ Sỹ T không còn sinh sống cùng bà Ch tại địa chỉ trên mà chuyển về sinh sống cùng cha mẹ đẻ tại tổ 06, ấp 17, phường A, tỉnh Đồng Nai. Nay bà Đỗ Thị Kim Ch thấy mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống Ch không thể kéo dài nên làm đơn xin ly hôn với ông Hồ Sỹ T.

Quá trình chung sống bà Đỗ Thị Kim Ch và ông Hồ Sỹ T có 02 con Ch tên Hồ Thị Ngọc Tr1, sinh ngày 26/7/2007 và Hồ Thị Ngọc Tr, sinh ngày 06/3/2009. Sau khi ly hôn, bà Ch có nguyện vọng được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con Ch tên Hồ Thị Ngọc Tr1, sinh ngày 26/7/2007 và Hồ Thị Ngọc Tr, sinh ngày 06/3/2009 đến khi các con trưởng thành, đủ 18 tuổi. Không yêu cầu ông Hồ Sỹ T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Đỗ Thị Kim Ch không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại phiên tòa, bị đơn ông Hồ Sỹ T vắng mặt.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ đầy đủ các văn bản tố tụng, triệu tập ông Hồ Sỹ T lên làm việc, viết bản tự khai trình bày ý kiến, nguyện vọng của mình để làm có cơ sở giải quyết vụ án, nhưng ông Hồ Sỹ T không có mặt tại Toà án để làm việc nên không có ý kiến trình bày.

Đồng thời, Tòa án đã tiến hành triệu tập ông Hồ Sỹ T tham gia các phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, giao nộp công khai cứng cứ và hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng ông T không tham gia, không có ý kiến trình bày.

Tại biên bản xác minh ngày 24/4/2025, tại Công an xã Th, thị xã B, tỉnh Bình Phước (nay là Công an phường A, tỉnh Đồng Nai) và tại tổ 06, ấp 17, xã Th, thị xã B, tỉnh Bình Phước (nay là tổ 06, ấp 17, phường A, tỉnh Đồng Nai) xác định: Bà Đỗ Thị Kim Ch và ông Hồ Sỹ T hiện nay không còn Ch sống với nhau. Hiện ông Hồ Sỹ T có hộ khẩu thường trú tại tổ tổ 06, ấp 17, xã Th, thị xã B, tỉnh Bình Phước (nay là tổ 06, ấp 17, phường A, tỉnh Đồng Nai), ông T thường xuyên đi làm việc xa nhà, thỉnh thoảng mới về thăm gia đình. Còn bà Đỗ Thị Kim Ch không còn sinh sống cùng ông Hồ Sỹ T.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý cho đến nay, Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm. Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định pháp luật tại Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 56, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào chứng cứ và diễn biến tại phiên tòa, chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ ý kiến trình bày và kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Hồ Sỹ T đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Tổ 06, ấp 17, xã Th, thị xã B, tỉnh Bình Phước (nay là tổ 06, ấp 17, phường A, tỉnh Đồng Nai). Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai.

Ông Hồ Sỹ T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, nguyên đơn bà Đỗ Thị Kim Ch vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị Kim Ch và ông Hồ Sỹ T sau thời gian tìm hiểu, tự nguyện Ch sống và đăng ký kết hôn vào ngày 13/6/2006, tại Ủy ban nhân dân xã T1, huyện B, tỉnh Bình Phước (nay là Uỷ ban nhân dân phường A, tỉnh Đồng Nai), theo đúng quy định pháp luật, nên hôn nhân của bà Đỗ Thị Kim Ch và ông Hồ Sỹ T là hợp pháp, đúng quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Xét thấy, bà Đỗ Thị Kim Ch và ông Hồ Sỹ T kết hôn với nhau nhằm mục đích xây dựng gia đình hạnh phúc nhưng quá trình Ch sống ông, bà bất đồng quan điểm không còn thương yêu nhau, quan tâm, trách nhiệm với nhau, mục đích của hôn nhân không đạt được, ông bà đã sống ly thân từ 2020 đến nay, nay bà Đỗ Thị Kim Ch không muốn hàn gắn gia đình mà yêu cầu ly hôn với ông Hồ Sỹ T để ổn định cuộc sống là phù hợp với quy định của pháp luật. Căn cứ vào Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đỗ Thị Kim Ch, cho bà Đỗ Thị Kim Ch ly hôn với ông Hồ Sỹ T.

Về con Ch: Sau khi ly hôn, bà Đỗ Thị Kim Ch có nguyện vọng có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con 02 chung tên Hồ Thị Ngọc Tr1, sinh ngày 26/7/2007 và Hồ Thị Ngọc Tr, sinh ngày 06/3/2009, nhận thấy từ khi bà Ch và ông T ly thân, cháu Tr và cháu Tr1 do bà Ch trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến nay, bà Ch có công việc, thu nhập ổn định và tại biên bản lấy lời khai ngày 12/5/2025 cháu Tr và cháu Tr1 đều có nguyện vọng được ở cùng mẹ sau khi ba mẹ ly hôn, xét quyền lợi chính đáng về mọi mặt của con, bà Ch nuôi dưỡng là phù hợp hơn ông Hồ Sỹ T và phù hợp theo quy định của pháp luật tại các Điều 58 và 81 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Đỗ Thị Kim Ch, giao 02 cháu tên Hồ Thị Ngọc Tr1, sinh ngày 26/7/2007 và Hồ Thị Ngọc Tr, sinh ngày 06/3/2009 cho bà Đỗ Thị Kim Ch tiếp tục nuôi dưỡng đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi. Không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con Ch.

Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn bà Đỗ Thị Kim Ch không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà Đỗ Thị Kim Ch phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ các điều 51, 53, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của Đỗ Thị Kim Ch. Bà Đỗ Thị Kim Ch được ly hôn với ông Hồ Sỹ T.

- Về con Ch: Giao 02 con Ch tên tên Hồ Thị Ngọc Tr1, sinh ngày 26/7/2007 và Hồ Thị Ngọc Tr, sinh ngày 06/3/2009 cho bà Đỗ Thị Kim Ch trực tiếp nuôi đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

Ông Hồ Sỹ T được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cấm, cản trở.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi dưỡng con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế việc thăm nom. Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, các bên có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng, xin thay đổi người trực tiếp nuôi con nếu có căn cứ.

- Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn bà Đỗ Thị Kim Ch không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về án phí: Bà Đỗ Thị Kim Ch phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002449 ngày 08/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 10 - Đồng Nai).

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ