vanban.org

Bản án 01/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vi Thị T.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vi Thị T được ly hôn anh Hà Văn H. Về con chung: Giao cho anh Hà Văn H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Hà Chu B, sinh ngày 19/10/2012. Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Vi Thị T xin ly hôn anh Hà Văn H"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vi Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUAN SƠN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2025/HNGĐ-ST.
Ngày: 09/01/2025
V/v: ly hôn, tranh chấp
về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Xuân Tùng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Trọng Năm

2. Bà Lữ Thị Thu Hà

Thư ký phiên tòa: Ông Hà Văn Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Quan Sơn tham gia phiên tòa: Ông Cao Hồng Minh - Kiểm sát viên

Ngày 09 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 43/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: chị Vi Thị T - Sinh năm 1991

Địa chỉ: bản H, xã S, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.

Bị đơn: anh Hà Văn H - Sinh năm 1988

Địa chỉ: bản N, xã N, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên toà chị Vi Thị T vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt; anh Hà Văn H vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 11/6/2024, Bản tự khai ngày 19/6/2024 cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị Vi Thị T trình bày:

Về hôn nhân: chị và anh Hà Văn H tự nguyện kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Na Mèo, huyện Quan Sơn vào ngày 07/3/2012. Quá trình chung sống vợ chồng bình thường đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do: tính cách vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống, mỗi người có suy nghĩ, lối sống khác nhau không thể hòa hợp được nên vợ chồng hay xảy ra cãi cọ, xô xát. Chị và anh H đã sống ly thân kể từ năm 2014 đến nay không ai quan tâm tới nhau nữa.

Xác định mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng, đời sống chung thực tế đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh H được ly hôn.

Về con chung: chị và anh H có một con chung Hà Chu B, sinh ngày 19/10/2012. Hiện cháu B đang sống cùng anh H và bà nội. Khi ly hôn, chị đề nghị giao cháu B cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng; chị không cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh H.

Về tài sản và công nợ: chị Vi Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: chị Vi Thị T đề nghị chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Kèm theo đơn khởi kiện và bản tự khai, chị Vi Thị T còn nộp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ gồm: Trích lục kết hôn (bản sao); Căn cước công dân của chị (bản sao chứng thực); Giấy khai sinh cháu Hà Chu B (bản sao); Thông báo số định danh cá nhân và thông tin công dân trong cơ sở dữ liệu quốc gia đối với Vi Thị T; Xác nhận thông tin về nơi cư trú của chị và anh H; Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án.

* Về bị đơn: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, bao gồm: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Giấy triệu tập đương sự đến Tòa án để trình bày quan điểm về vụ án; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo hoãn phiên họp và phiên hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa; nhưng anh H không có mặt theo yêu cầu của Tòa án. Vì vậy, Tòa án không thể tiếp cận được với anh H để lấy lời khai của anh.

* Tại biên bản xác minh ngày 21/11/2024, ông Vi Văn K - Cha đẻ chị T và Biên bản xác minh ngày 21/11/2024, ông Lò Văn D - Trưởng bản Na Mèo, cho biết:

Về hôn nhân: chị T và anh H kết hôn tự nguyện, tổ chức cưới theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn tại UBND xã Na Mèo vào năm 2012. Sau khi kết hôn, chị T, anh H sinh sống cùng nhau ở nhà riêng tại bản N, xã N, huyện Q. Sau khi sống chung thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc đến khoảng năm 2014 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không hợp nhau về tính cách nên hay cãi vã. Hiện chị T, anh H không sống chung cùng nhau nữa. Nay chị T xin ly hôn anh H thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Về con chung: chị T, anh H có một con chung Hà Chu B, sinh năm 2012. Hiện cháu B đang sống cùng anh H và bà nội. Nếu ly hôn thì đề nghi Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Về tài sản và công nợ: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

* Ý kiến của đại diện VKSND huyện Quan Sơn: Trong quá trình giải quyết vụ án và tố tụng tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán, HĐXX đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật pháp luật Tố tụng dân sự. Về hướng giải quyết vụ án đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 2 điều 227; khoản 1 điều 228; điều 238 của Bộ luật TTDS; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; các Điều 81; 82; 83 luật HNGĐ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn chị Vi Thị T đối với bị đơn anh Hà Văn H và giao con chung của anh, chị là Hà Chu B cho anh H có quyền trực tiếp nuôi dưỡng; chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật. Về án phí, chị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Ý kiến của nguyên đơn trong các bản tự khai; ý kiến của đại diện VKSND. Hội đồng xét xử nhận định:

Về sự vắng mặt của đương sự: Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho chị Vi Thị T và anh Hà Văn H các văn bản tố tụng của Tòa án; chị T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh H vắng mặt hai lần không có lý do nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 điều 227, khoản 1 điều 228; điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt chị T, anh H.

Thẩm quyền giải quyết: Đơn khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn đã làm đúng theo mẫu quy định, nội dung khởi kiện xin ly hôn phù hợp với khoản 1 điều 28 của BLTTDS; Bị đơn có nơi cư trú tại địa bàn huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Quan Sơn theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39 của BLTTDS.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vi Thị T và anh Hà Văn H tự nguyện kết hôn ngày 07/3/2012, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Na Mèo, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Vì vậy, hôn nhân giữa chị T và anh H là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại điều 9 Luật HNGĐ năm 2000. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống bình thường đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm sống. Thực tế, vợ chồng đã ly thân mỗi người sống một nơi. Nay xác định không thể sống chung được với nhau, nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn anh Hà Văn H.

Qua chứng cứ do nguyên đơn cung cấp đó là đơn khởi kiện 11/6/2024, Bản tự khai ngày 19/6/2024; Biên bản xác minh lấy ý kiến của cha đẻ chị T và Biên bản xác minh lấy ý kiến của Trưởng bản Na Mèo mà Tòa án thu thập. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định tình trạng mâu thuẫn hôn nhân của chị T, anh H thực sự trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, có kéo dài cũng không đem lại hạnh phúc.

Nay chị T có đơn ly hôn, HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật HNGĐ năm 2014 chấp nhận đơn ly hôn của chị T đối với anh H.

Về con chung: Chị T và anh H có một con chung là Hà Chu B, sinh ngày 19/10/2012. Khi ly hôn, chị T có nguyện vọng giao con chung cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng.

Xét nguyện vọng của chị T về trách nhiệm nuôi con:

Qua chứng cứ các bên cung cấp và kết quả xác minh của Tòa án, HĐXX thấy rằng, nguyện vọng của chị T là chính đáng, phù hợp; việc giao con chung cho ai nuôi phải xem xét tất cả các điều kiện liên quan đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng nhằm đảm bảo cho việc phát triển tốt nhất cho các cháu. Hiện cháu Hà Chu B đang học tập ổn định, phát triển bình thường về thể chất, trí tuệ, đang sinh sống cùng anh H và mẹ ruột anh H; cháu B có nguyện vọng xin được ở với anh H như trong bản tự khai mà cháu đã trình bày. Do vậy, giao con chung Hà Chu B cho anh H chăm sóc, nuôi dưỡng cũng phù hợp với thực tế và tốt hơn cho sự phát triển của cháu.

Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa hôm nay, HĐXX chấp nhận nguyện vọng của chị T; Giao cháu Hà Chu B, sinh ngày 19/10/2012 là con chung của chị T, anh H cho anh H có quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi cháu B đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng: Chị T không đề nghị nên HĐXX không xem xét.

Về tài sản, công nợ chung: Chị T không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Vi Thị T là nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm về ly hôn.

Ý kiến của đại diện VKSND huyện Quan Sơn tại phiên tòa hôm nay về việc áp dụng pháp luật tố tụng của Thẩm phán, của HĐXX và các căn cứ pháp luật áp dụng để giải quyết vụ án đúng với quy định của pháp luật. HĐXX chấp nhận toàn bộ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quan Sơn.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật TTDS; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vi Thị T.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vi Thị T được ly hôn anh Hà Văn H.

Về con chung: Giao cho anh Hà Văn H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Hà Chu B, sinh ngày 19/10/2012. Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh H.

Chị Vi Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về án phí: Chị Vi Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quan Sơn, theo biên lai thu số 0002505, ký hiệu BLTU/23 ngày 11/6/2024. Chị T đã nộp đủ án phí.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án./.

Cỡ chữ