vanban.org

Bản án 01/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về Điều luật áp dụng: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 48, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị Ngọc A được ly hôn anh Trần Văn A. [2]. Về con chung: Giao con chung Trần Triệu V, sinh ngày 09/9/2009 cho chị Phạm Thị Ngọc A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành (18 tuổi). Anh Trần Văn A không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về Điều luật áp dụng: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 48, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHI XUÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2025/HNGĐ - ST
Ngày: 02 - 01 - 2025
V/v. Tranh chấp hôn nhân gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Huy Bình

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Sỹ Đàn và Bà Trần Thị Thanh Tâm.

Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Quốc Đông – Thẩm tra viên tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh: Bà Phan Thị Huy Linh – Kiểm sát viên

Vào hồi 14 giờ 30 phút, ngày 02 tháng 01 năm 2025 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 79/2024/TLST – HNGĐ, ngày 14 tháng 10 năm 2024, về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐXXST – HNGĐ, ngày 09 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 15/2024/QĐST-HNGĐ ngày 20/12/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Ngọc A; Sinh năm: 1986 “vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt”;

- Bị đơn: Anh Trần Văn A; Sinh năm: 1983 “vắng mặt”

Cùng địa chỉ: Thôn Thanh V, xã Xuân Thành, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của người xin ly hôn, nguyên đơn chị Phạm Thị Ngọc A trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Ngọc A và anh Trần Văn A đăng ký hết hôn với nhau ngày 17/6/2008 tại Ủy ban nhân dân xã Xuân Thành, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn một thời gian chung sống thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, vợ chồng đã ly thân. Nay, chị A thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được và yêu cầu ly hôn với anh Trần Văn A.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung do chị A nuôi dưỡng, chị Phạm Thị Ngọc A có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung Trần Triệu V, sinh ngày 09/9/2009 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh Anh cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh địa chỉ, nơi sinh sống của bị đơn qua bà Phan Thị L là mẹ của bị đơn và chính quyền địa phương xác định bị đơn có xác nhận nơi cư trú và sinh sống tại Thôn Thanh V, xã Xuân Thành, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh nhưng do bị đơn làm công việc tự do, ngày nghỉ bị đơn có về nhà, bà Phan Thị L đồng ý nhận thay các văn bản tố tụng, giao ngay cho bị đơn. Hiện bị đơn Trần Văn A đã nhận được các văn bản tố tụng (Biên bản xác minh ngày 14/10/2024, 24/12/2024 BL số 22, 39 hồ sơ vụ án).

Do bị đơn vắng mặt, nên Tòa án tiến hành giải quyết vụ án và mở phiên tòa xét xử để giải quyết yêu cầu của nguyên đơn theo các quy định tại các Điều 177, 207, 210 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân phát biểu quan điểm: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 58, 70, khoản 1, 2 Điều 81, khoản 1, 3 Điều 82, Điều 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Ngọc A được ly hôn anh Trần Văn A. Về con chung: Giao Trần Triệu V, sinh ngày 09/9/2009 cho chị Phạm Thị Ngọc A trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh Trần Văn A không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho chị A. Về tài sản chung và nợ chung miễn xét. Buộc nguyên đơn phải nộp án phí sơ thẩm dân sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thẩm quyền xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị Ngọc A thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.

Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt, bị đơn vắng mặt không lý do nên HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự sau khi hoãn phiên tòa lần 01 (ngày 20/12/2024) là phù hợp theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự

. Về quan hệ hôn nhân:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án thì quan hệ hôn nhân của nguyên đơn và bị đơn hoàn toàn hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng đã sống chung được một thời gian nhưng do tính tình không thể hòa hợp nên nguyên đơn yêu cầu được ly hôn do ly thân đã lâu.

Sau khi thụ lý, Tòa án đã thông báo công khai chứng cứ và mở phiên hòa giải để các đương sự tiến hành hòa giải nhưng anh Trần Văn A vắng mặt tại các buổi làm việc và xét xử vụ án nên không có căn cứ xem xét yêu cầu của anh Trần Văn A. Hội đồng xét xử nhận thấy việc anh Trần Văn A vắng mặt, không thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng khi đã được Tòa án thông báo hợp lệ, cho thấy, tình trạng hôn nhân mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và cần áp dụng khoản 1, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình công nhận thuận tình ly hôn cho chị Phạm Thị Ngọc A được ly hôn với anh Trần Văn A.

. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung, Trần Triệu V, sinh ngày 09/9/2009. Quá trình giải quyết vụ án, anh Trần Văn A không tham gia tố tụng nên HĐXX không có căn cứ xem xét yêu cầu. Hiện tại con chung do chị Phạm Thị Ngọc A nuôi dưỡng, không vi phạm nghĩa vụ nuôi con (có xác minh từ mẹ anh Trần Văn A). Nay chị Phạm Thị Ngọc A có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc con, không yêu cầu anh Phan Văn Anh cấp dưỡng, nên HĐXX cần chấp nhận.

. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí và quyền kháng cáo: Nguyên đơn phải nộp án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Về Điều luật áp dụng: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 48, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 58, 70, khoản 1, 2 Điều 81, khoản 1, 3 Điều 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị Ngọc A được ly hôn anh Trần Văn A.

[2]. Về con chung: Giao con chung Trần Triệu V, sinh ngày 09/9/2009 cho chị Phạm Thị Ngọc A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành (18 tuổi). Anh Trần Văn A không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi dưỡng con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Các bên có thể thỏa thuận thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu Tòa án thay đổi nếu người trực tiếp nuôi con không đủ điều kiện nuôi. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

[3]. Về án phí: Chị Phạm Thị Ngọc A phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí ly hôn đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) theo biên lai số 0006675 ngày 14/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, tiền án phí chị Phạm Thị Ngọc A đã nộp đủ.

[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ