vanban.org

Bản án 01/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L đối với ông Nguyễn Văn Đ.

1. Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Văn Đ. 2. Về con chung: Các con chung của Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Văn Đ là Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 08/6/1991, Nguyễn Thị Tố U, sinh ngày 11/12/1997 và Nguyễn Xuân T, sinh ngày 14/04/2000 đều đã trên 18 tuổi nên không xem x… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị và bị đơn là ông Nguyễn Văn Đ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L đối với ông Nguyễn Văn Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK R’LẤP
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 10 – 01 - 2025
V/v “Không công nhận quan hệ
vợ chồng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R’LẤP, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Diệu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Thế Kỳ.

2. Ông Nguyễn Xuân Thùy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 278/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2024 về việc “Không công nhận quan hệ vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1966.

Địa chỉ: Thôn 7, xã K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1967.

Địa chỉ: Thôn 7, xã K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Văn Đ tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1990 đến nay nhưng không có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền, hai gia đình có làm đám cưới theo phong tục địa phương. Trong thời kỳ sống chung, giữa bà L và ông Đ thường xuyên xảy ra mẫu thuẫn, bất đồng quan điểm sống. Hiện nay nhận thấy tình cảm không còn, không thể chung sống với nhau được nữa nên bà L yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Văn Đ.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Văn Đ có 03 con chung là Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 08/6/1991, Nguyễn Thị Tố U, sinh ngày 11/12/1997 và Nguyễn Xuân T, sinh ngày 14/04/2000 đều đã đủ 18 tuổi nên bà L không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Văn Đ tự thỏa thuận, bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bị đơn ông Nguyễn Văn Đ trình bày: Ông Nguyễn Văn Đ đồng ý với lời khai của bà Nguyễn Thị L về thời gian chung sống, tình trạng quan hệ hôn nhân của ông Đ và bà L. Hiện nay nhận thấy tình cảm không còn, không thể tiếp tục chung sống được với nhau nữa, nên ông Đ yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị L.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị L có 03 con chung là Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 08/6/1991, Nguyễn Thị Tố U, sinh ngày 11/12/1997 và Nguyễn Xuân T, sinh ngày 14/04/2000 đều đã đủ 18 tuổi nên ông Đ không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Văn Đ tự thỏa thuận, ông Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật: Từ khi được phân công giải quyết vụ án cho đến thời điểm trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của pháp luật. Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 8 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L. Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Văn Đ; về con chung: Các con chung của bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Văn Đ là Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 08/6/1991, Nguyễn Thị Tố U, sinh ngày 11/12/1997 và Nguyễn Xuân T, sinh ngày 14/04/2000 đều đã đủ 18 tuổi nên đề nghị không xem xét, giải quyết; về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Văn Đ không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị L khởi kiện yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng với ông Nguyễn Văn Đ nên quan hệ tranh chấp là “Không công nhận quan hệ vợ chồng” theo quy định tại khoản 8 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn là ông Nguyễn Văn Đ đang cư trú tại thôn 7, xã K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L và bị đơn ông Nguyễn Văn Đ đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Đang, bà L theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Văn Đ tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1990 và có 03 con chung. Quá trình chung sống ông Đ, bà L không đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền mặc dù có đầy đủ điều kiện kết hôn, mặt khác Nhà nước có chính sách khuyến khích đăng ký kết hôn nhưng ông Đ, bà L vẫn không chấp hành là vi phạm khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.

Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”.

Khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng…”.

Mặt khác, trong quá trình chung sống giữa bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Văn Đ thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông Đ và bà L tính tình không không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, ông bà đã có gắng hàn gắn nhưng không được. Đến nay ông Đ và bà L nhận thấy tình cảm không còn, đời sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L là có căn cứ cần chấp nhận, tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Văn Đ.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Văn Đ có 03 con chung là Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 08/6/1991, Nguyễn Thị Tố U, sinh ngày 11/12/1997 và Nguyễn Xuân T, sinh ngày 14/04/2000 đều đã trên 18 tuổi nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Văn Đ không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Xét quan điểm đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông tại phiên tòa là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị L phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 8 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 228; Điều 266; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L đối với ông Nguyễn Văn Đ.

1.1. Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Văn Đ.

1.2. Về con chung: Các con chung của Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Văn Đ là Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 08/6/1991, Nguyễn Thị Tố U, sinh ngày 11/12/1997 và Nguyễn Xuân T, sinh ngày 14/04/2000 đều đã trên 18 tuổi nên không xem xét, giải quyết.

1.3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Văn Đ không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bà Nguyễn Thị L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) bà Nguyễn Thị L đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003108 ngày 31 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông.

3. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Văn Đ vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ