vanban.org

Bản án 01/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị Tuyết L.

[1] Buộc anh Võ Minh H có trách nhiệm trả cho chị Ngô Thị Tuyết L số tiền vay còn nợ là 151.000.000đ (Một trăm năm mươi mốt triệu đồng). Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án. Nếu bên phải thi hành án không tự nguyện thi hành xong các khoản tiền thì hàng tháng còn phải chịu th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "linh - hoang"
  • Tòa quyết gì? * Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị Tuyết L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VŨNG LIÊM
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2025/DS-ST
Ngày: 10 – 01 -2025
V/v Tranh chấp hợp đồng vay
tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM

TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tuyền Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Văn Hồng

2. Bà Trần Thị Thu Hà

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Thành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm tỉnh Vĩnh Long: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh Kiểm Sát viên. Ngày 10 tháng 01 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 270/2024/TLST-DS ngày 22 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 178/2024/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên Toà số: 317B/2024/QĐHPT-DS ngày 24/12/2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Ngô Thị Tuyết L, sinh năm 1974 (Vắng mặt có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: C, Xóm C, phường B, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.

2. Bị đơn: Anh Võ Minh H, sinh năm 1970 (Vắng mặt).

Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 22 tháng 10 năm 2024 và những lời khai khác có trong hồ sơ vụ án chị Ngô Thị Tuyết L trình bày;

Chị và anh Võ Minh H là bạn bè thân thiết nên anh H có nói với chị là cần vốn làm ăn nên có hỏi vay của chị hai lần với số tiền như sau:

- Lần 1: Ngày 16/3/2019 vay 176.000.000đ (Một trăm bảy mươi sáu triệu đồng) hẹn 02 tháng sẽ trả.

- Lần 2: Ngày 17/6/2019 vay 157.000.000đ (Một trăm năm mươi bảy triệu đồng) hẹn 03 tháng sẽ trả.

Trong 02 lần vay có thỏa thuận lãi suất là 4%/tháng và đến hẹn thì sẽ trả lại vốn. Lãi thì trả đầy đủ nhưng đến hẹn vẫn không trả vốn nên chị có đến gặp H để thương lượng và H xin trả lãi hàng tháng khi nào có tiền sẽ trả vốn chị cũng đồng ý. Nhưng H chỉ đóng lãi được vài tháng thì ngưng không đóng lãi nữa và cũng không trả lại vốn cho chị, chị đến gặp H để thương lượng và H cũng hứa lần hứa lượt với chị sẽ trả lại vốn.

Cuối tháng 12/2023 thì H trả được vốn cho chị là 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng) còn lại 151.000.000đ (Một trăm năm mươi mốt triệu đồng) đến nay vẫn chưa trả và không đóng lãi cho tôi, tôi có đến gặp H nhưng H cố tình tránh mặt không cho tôi gặp. Nay tôi yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Võ Minh H có nghĩa vụ trả cho tôi số tiền vay còn thiếu là 151.000.000đ (Một trăm năm mươi mốt triệu đồng) và không yêu cầu tính lãi.

* Đối với bị đơn anh Võ Minh H:

Anh Võ Minh H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp H, xã X, huyện V, tỉnh Vĩnh Long từ trước đến nay. Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải cho anh Võ Minh H. Toà án đã triệu tập hợp lệ nhưng anh H đều vắng mặt và không có ý kiến gì.

*Theo kết quả xác minh của Công an xã H ngày 06 tháng 12 năm 2024: anh Võ Minh H có dăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp H, xã H, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm phát biểu quan điểm:

-Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán; Thư ký, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến phiên toà xét xử sơ thẩm được thực hiện đúng với quy định của Bộ Luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên toà nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng đều vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

-Về đường lối giải quyết vụ án:

+ Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2026 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc anh Võ Minh H có nghĩa vụ trả cho cho tôi số tiền vay còn thiếu là 151.000.000đ (Một trăm năm mươi mốt triệu đồng).

+ Về án phí: Buộc anh Võ Minh H có trách nhiệm nộp 7.550.000đ (Bảy triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng).

Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục hay bổ sung gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu và các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng từ khi thụ lý vụ án đến khi vụ án được đưa ra xét xử anh Võ Minh H cố tình vắng mặt không lý do, không hợp tác với Tòa án để giải quyết vụ án, Ngày 24/12/2024 chị Ngô Thị Tuyết L có đơn xin vắng mặt. Nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị L, anh H theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nội dung vụ án: Hợp đồng vay tài sản giữa chị Ngô Thị Tuyết L với anh Võ Minh H ký kết trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận. Chị L đã thực hiện xong nghĩa vụ giao cho anh H số tiền 351.000.000đ. Từ khi nhận được tiền đến nay anh H đã trả cho chị L 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng) còn lại 151.000.000đ (Một trăm năm mươi mốt triệu đồng) đến nay chưa trả. Nay chị L yêu cầu anh H trả lại số tiền vay là 151.000.000đ (Một trăm năm mươi mốt triệu đồng).

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là nằm trong phạm vi pháp luật cho phép và không trái với quy định của pháp luật. Nguyên đơn cung cấp giấy mượn tiền và giấy nợ của anh H. Trong suốt quá trình tố tụng, bị đơn anh Võ Minh H không nộp văn bản thể hiện ý kiến phản đối của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp. Mặc dù đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh H luôn vắng mặt là vi phạm nghĩa vụ giao nộp chứng cứ. Đồng thời, Tòa án không tiến hành hoà giải được, không đối chất được để làm rõ các vấn đề có liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cũng như không thực hiện được quyền tranh luận tại phiên tòa để chứng minh cho quyền lợi của mình là lỗi anh H.

Từ những căn cứ trên mặc dù anh Võ Minh H vắng mặt nhưng có căn cứ xác định anh Võ Miunh H1 còn nợ chị Ngô Thị Tuyết L số tiền vay là 151.000.000đ (Một trăm năm mươi mốt triệu đồng). Do đó, buộc anh Võ Minh H phải trả cho chị Ngô Thị Tuyết L số tiền vay là 151.000.000đ (Một trăm năm mươi mốt triệu đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án. Nếu bên phải thi hành án không tự nguyện thi hành xong các khoản tiền thì hàng tháng còn phải chịu thêm phần lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Võ Minh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là: 151.000.000đ x 5 % = 7.550.000đ (Bảy triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng).

Yêu cầu của Chị Ngô Thị Tuyết L được toà án chấp nhận nên chị L không phải chịu án phí, trả lại cho chị L số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.775.000 đồng (Ba triệu bảy trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu số N0 0009473 ngày 22 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũng Liêm.

Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm: là có cơ sở và đúng pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Điều 9, Điều 463, Điều 465, Điều 466, của Bộ luật dân sự; Điều 3, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016.

* Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị Tuyết L.

[1] Buộc anh Võ Minh H có trách nhiệm trả cho chị Ngô Thị Tuyết L số tiền vay còn nợ là 151.000.000đ (Một trăm năm mươi mốt triệu đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án. Nếu bên phải thi hành án không tự nguyện thi hành xong các khoản tiền thì hàng tháng còn phải chịu thêm phần lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

[2] Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc anh Võ Minh H phải nộp 7.550.000đ (Bảy triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng).

Chị Ngô Thị Tuyết L không phải chịu án phí hoàn trả lại cho chị L số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.775.000 đồng (Ba triệu bảy trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu số N0 0009473 ngày 22 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũng Liêm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn, bị đơn, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử lại phúc thẩm./.

Cỡ chữ