vanban.org

Bản án 01/2024/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 30/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đức E và Đỗ Xuân T phạm vào tội: Mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Đức E 17 (mười bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày 18/8/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức Em cùng đồng phạm về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đức E và Đỗ Xuân T phạm vào tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/HS-ST
Ngày: 30 - 01 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Tân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Đạt Nhân.

2. Ông Nguyễn Quốc Phục.

- Thư ký phiên tòa: ông Trần Kiến Toàn – Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: ông Huỳnh Hoàng Em - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 62/2023/HSST, ngày 29 tháng 12 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 01 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Đức E, sinh năm 1985, tại Vĩnh Long. Nơi cư trú: tổ I, khóm E, phường T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long (chỗ ở hiện nay: tổ C, khóm B, phường T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long); nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P và bà Lê Thị G; có vợ Lý Thúy L và 03 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2014; tiền sự: tiền án: không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/8/2023 cho đến nay – có mặt.

2. Đỗ Xuân T, sinh năm 2000, tại Vĩnh Long. Nơi cư trú: Số F, tổ C, khóm B, phường T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long (chỗ ở hiện nay: Tổ C, khóm B, phường T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long); nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Xuân B (đã chết) và bà Huỳnh Thị Thùy V; có anh chị em ruột: có 02 người, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất là bị cáo; tiền sự: tiền án: không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/8/2023 cho đến nay – có mặt.

2. Những người tham gia tố tụng:

Người bào chữa cho bị cáo:

1.Ông Trần Ngọc T1 – Công ty L5, thuộc Đoàn luật sư tỉnh V bào chữa cho chỉ định bị cáo Nguyễn Đức E – có mặt.

2. Ông Nguyễn Văn D –Văn phòng L6, thuộc Đoàn luật sư tỉnh V bào chữa cho chỉ định bị cáo Đỗ Xuân T – vắng mặt không lý do.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Nguyễn Thành L1 (ba L2), sinh năm 1996 – vắng mặt.

Nơi cư trú: T, khóm B, phường T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.

2. Lý Thị L3, sinh năm 1983 – có mặt.

Nơi cư trú: Tổ C, khóm B, phường T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.

Người làm chứng:

1.Võ Minh L4, sinh năm 1983 – vắng mặt.

Nơi cư trú: ấp P, xã S, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

2. Nguyễn Thế V1, sinh năm 1978 – vắng mặt.

Nơi cư trú: Số D, đường Đ, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.

3. Đỗ Trọng T2, sinh năm 1998 – vắng mặt.

Nơi cư trú: Số C, đường V, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.

4. Nguyễn Văn T3, sinh năm 1973 – vắng mặt.

Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long.

5. Nguyễn Văn M, sinh năm 1987 – vắng mặt.

Nơi cư trú: Số C, tổ B, khóm Đ, phường Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.

6. Nguyễn Văn T4, sinh năm 1992 – vắng mặt.

Nơi cư trú: Tổ E, ấp T, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ.

7. Lê Thanh Đ, sinh năm 1986 – vắng mặt.

Nơi cư trú: Tổ G, khóm B, phường T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 12 giờ ngày 18/8/2023, tại tổ C, khóm B, phường T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long, Công an thị xã B bắt quả tang bị can Nguyễn Đức E và Đỗ Xuân T về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, tang vật thu giữ gồm:

- Thu trong hộp nhựa hình tròn màu đỏ có:

+ 58 đoạn ống nhựa màu trắng, hàn kín hai đầu, được niêm phong, bên ngoài đánh số 01, ký hiệu NS3, mã số 2017993;

+ 64 bịch nylon nẹp miệng, được niêm phong, bên ngoài đánh số 02, ký hiệu NS3, mã số 2017994;

+ 03 đoạn ống nhựa màu trắng sọc màu đỏ, hàn kín hai đầu; 06 bịch nylon, nẹp miệng, viền màu xanh; 15 bịch nylon nẹp miệng, viền màu đỏ; 18 bịch nylon nẹp miệng, viền màu đỏ, có hoa văn hình tròn màu đỏ, tất cả được niêm phong, bên ngoài đánh số 03, ký hiệu NS3, mã số 2017995.

- Thu ngoài nền đất có đậy nắp hộp hình tròn màu đỏ có:

- 19 bịch nylon nẹp miệng, viền màu đỏ; 13 bịch nylon nẹp miệng, viền màu đỏ, có hoa văn hình tròn màu đỏ; 04 bịch nylon nẹp miệng, viền màu xanh lá cây, tất cả được niêm phong, bên ngoài đánh số 04, ký hiệu NS3, mã số 2017997.

- Thu 01 kéo bằng kim loại.

- Ngoài ra, thu trong người của Nguyễn Đức E: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax màu trắng (không lắp sim); 01 điện thoại di động Nokia, sử dụng sim số 0901222343; tiền Việt Nam 11.250.000 đồng và 01 xe môtô kiểm soát 64H1-433.57.

- T trong người của Đỗ Xuân T: 01 điện thoại di động Oppo, sử dụng sim số 0768674565; tiền Việt Nam 20.345.000 đồng và 01 xe mô tô biển kiểm soát 64K1-338.65.

Trong quá trình điều tra bị can Nguyễn Đức E khai nhận: Vào khoảng 10 giờ, ngày 18/8/2023 có một người nam và một người nữ (không biết rõ họ tên, địa chỉ) đi trên xe mô tô (không nhớ biển kiểm soát) đến bán chất ma túy cho Đức E tại khu vực gần cổng vào Công ty T11, thuộc tổ C, khóm B, phường T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long, với giá tiền 21.000.000 đồng, nhưng Đức E trả trước 3.000.000 đồng, số tiền còn lại khi nào bán hết số ma túy sẽ trả sau. Sau đó, Đức E đưa cho Đỗ Xuân T bán lại, đang trong lúc đổ ra hộp nhựa màu đỏ và cùng kiểm đếm số lượng ma túy thì lực lượng Công an bắt.

Kết luận giám định số 595/KL-KTHS ngày 22/8/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh V kết luận (bút lục 33 - 34):

- Mẫu chất rắn màu trắng bên trong 58 đoạn ống nhựa là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng 5,5286 gam (gói số 01);

- Mẫu chất rắn màu trắng bên trong 64 bịch nylon là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng 13,0882 gam (gói số 02);

- Mẫu chất rắn màu trắng bên trong 03 đoạn ống nhựa màu trắng sọc đỏ là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,1249 gam (gói số 03);

- Mẫu chất rắn màu trắng bên trong 39 bịch nylon là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 11,2469 gam (gói số 03);

- Mẫu chất rắn màu trắng bên trong 36 bịch nylon là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng 13,1523 gam (gói số 04).

Tổng khối lượng chất ma túy 43,1409 gam. Trong đó, loại H là 31,7691 gam; loại Methamphetamine là 11,3718 gam.

Ngoài ra, Cơ quan điều tra đã thu thập, tài liệu chứng minh bị can Nguyễn Đức E và Đỗ Xuân T quá trình thực hiện hành vi mua bán trái phép chất mua túy như sau:

* Đối với Nguyễn Đức E thường mua chất ma túy tại khu vực quận N, TP Cần Thơ và khu vực cầu K, thuộc Phường C, TP ., tỉnh Vĩnh Long, sau đó một số để sử dụng cá nhân, một số phân ra thành tép nhỏ, bán lại kiếm tiền lời, bắt đầu bán trái phép chất ma túy trong năm 2022, thu lợi bất chính 20.000.000 đồng. Quá trình trên, Đức E đã bán ma túy cho những người như sau:

1/. Từ tháng 01/2023 đến 13/8/2023 Đỗ Trọng T2 mua ma túy dạng đá khoảng 10 lần, mỗi lần từ 130.000 đồng đến 450.000 đồng, địa điểm mua trước Công ty T11, thuộc tổ C, khóm B, phường T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.

2/. Từ tháng 6/2023 đến 17/8/2023 Võ Minh L4 mua ma túy khoảng 30 lần, mỗi lần mua từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng, loại ma túy là H; 50.000 đồng loại ma túy dạng đá, địa điểm mua thuộc khu vực tổ C, khóm B, phường T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.

3/. Vào khoảng giữa tháng 6/2023 đến ngày 16/8/2023 Nguyễn Thế V1 mua ma túy là loại Heroine khoảng 20 lần, tại trước Công ty T11, mỗi lần mua 100.000 đồng.

4/. Từ tháng 11/2022 đến 17/8/2023 Nguyễn Văn T3 mua ma túy, loại Heroine khoảng 40 lần, mỗi lần 01 cục, đựng trong bịch nylon nẹp miệng, giá 500.000 đồng, mua trước Công ty T11.

5/. Từ tháng 01/2023 đến 17/8/2023 Nguyễn Văn M mua ma túy, loại Heroine và ma túy dạng đá khoảng 10 lần, mỗi lần từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng Heroine; 50.000 đồng dạng đá, mua trước Công ty T11.

* Đối với bị can Đỗ Xuân T quen biết ở gần xóm cùng Đức E, biết Đức E có bán ma túy cho các đối tượng nghiện và vì muốn có tiền tiêu xài, nên vào khoảng thời gian tháng 11/2022 T kêu Đức E đưa chất ma túy cho T bán lại, cả hai bị can thỏa thuận nếu là Heroine, giá bán 100.000 đồng/tép T hưởng 10.000 đồng; giá bán 200.000 đồng/tép, hưởng 15.000 đồng; giá bán 500.000 đồng/tép, hưởng 30.000 đồng.

Loại dạng đá, giá bán 100.000 đồng đến 200.000 đồng/tép, T hưởng 10.000 đồng; giá bán trên 200.000 đồng đến 300.000 đồng/tép, hưởng 15.000 đồng; giá bán 450.000 đồng/tép, hưởng 20.000 đồng. Quá trình, bán trái phép chất ma túy trên Đỗ Xuân T khai nhận thu lợi bất chính 12.000.000 đồng. Quá trình trên, T bán ma túy cho những người mua như sau:

1/. Từ tháng 11/2022 đến 17/8/2023 Nguyễn Văn T3 mua ma túy, loại Heroine khoảng 20 lần, mỗi lần 01 cục, đựng trong bịch nylon nẹp miệng, giá 500.000 đồng, địa điểm mua trước Công ty T11 thuộc tổ C, khóm B, phường T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.

2/. Từ tháng 01/2023 đến 13/8/2023 Đỗ Trọng T2 mua ma túy, loại dạng đá khoảng 20 lần, mỗi lần từ 130.000 đồng đến 450.000 đồng, mua trước Công ty T11.

3/. Từ tháng 01/2023 đến 17/8/2023 Nguyễn Văn M mua ma túy, loại Heroine và ma túy dạng đá khoảng 15 lần, mỗi lần từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng Heroine; 50.000 đồng dạng đá, mua trước Công ty T11.

4/. Từ tháng 6/2023 đến 17/8/2023 Võ Minh L4 mua ma túy khoảng 80 lần, mỗi lần từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng, loại ma túy là H; 50.000 đồng loại ma túy dạng đá, mua trước Công ty T11.

5/. Từ tháng 8/2023 Nguyễn Văn T4 đã mua ma túy, loại ma túy dạng đá 03 lần, mỗi lần 200.000 đồng, mua trước Công ty T11.

Đối với anh Võ Bá H1, sinh năm 1975, nơi thường trú tổ B, khóm A, thị trấn C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long đăng ký thuê bao số điện thoại 0788.994.25, tuy nhiên anh H1 không trực tiếp sử dụng và cũng không biết, không liên quan đến hoạt động mua bán ma túy với Đức E, nên không đặt ra xem xét để xử lý (bút lục 223-238).

Cơ quan điều tra, đã trả lại cho bị can Nguyễn Đức E 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax màu trắng (không lắp sim) do không liên quan đến hành vi phạm tội, là có căn cứ.

* Vật chứng, đồ vật và tài liệu thu giữ:

- 01 (một) điện thoại di động N, sim số 0901.222.343 và 01 (một) điện thoại di động Oppo, sim số 0768.674.565; Tiền Việt Nam đồng 31.595.000 đồng.

- 02 (hai) xe mô tô: 01 (một) xe biển kiểm soát 64K1-338.65 và 01 (một) xe biển kiểm soát 64H1-433.57.

- 04 (bốn) gói niêm phong, bên ngoài đánh số 595/01; 595/02; 595/03; 595/04 tất cả đều ghi bên nhận là Võ Minh T6, bên giao là giám định viên Nguyễn Thành T7 ngày 22/8/2023, dấu tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh V; 01 (một) hộp nhựa hình tròn màu đỏ; 01 (một) kéo bằng kim loại.

Tại bản Cáo trạng số: 06/CT-VKS-P1, ngày 27/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long truy tố để xét xử các bị cáo Nguyễn Đức E và Đỗ Xuân T, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác trình bày:

Kiểm sát viên phát biểu lời luận tội đối với bị cáo: vào lúc 12 giờ ngày 18/8/2023 Nguyễn Đức E và Đỗ Xuân T đang kiểm đếm chất ma túy, có tổng khối lượng 43,1409 gam (trong đó, loại Heroine là 31,7691 gam; loại Methamphetamine là 11,3718 gam), để giao nhau bán lại cho nhiều đối tượng nghiện, tại tổ C, khóm B, phường T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long thì bị lực Công an bắt quả tang. Quá trình bán trái phép chất ma túy Nguyễn Đức E thu lợi bất chính 20.000.000 đồng và Đỗ Xuân T thu lợi bất chính 12.000.000 đồng.

Trên cơ sở đó, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đức E và Đỗ Xuân T phạm vào tội: Mua bán trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức E từ 16 năm đến 18 năm tù.

Thời gian chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày 18/8/2023

Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Xuân T từ 15 năm đến 17 năm tù.

Thời gian chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày 18/8/2023

Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đề nghị tịch thu tiêu hủy các vật liên quan đến ma túy:

- 04 (bốn) gói niêm phong: trong đó, 01 (môt) gói niêm phong số 595/01; 01 (một) gói niêm phong số 595/02; 01 (một) gói niêm phong số 595/03; 01 (một) gói niêm phong số 595/04, cả 04 (bốn) gói đều ghi ngày 22/8/2023, dấu tròn đỏ của Phòng Kỷ thuật hình sự - Công an tỉnh V, bên giao Nguyễn Thành T7, bên nhận Võ Minh T6.

- 01 (một) kéo cắt chỉ.

- 01 (một) hộp nhựa hình tròn màu đỏ.

Đề nghị tịch thu bị cáo Nguyễn Đức E:

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước tài sản tạm giữ đối với Nguyễn Đức E số tiền 11.250.000 đồng.

- 01 (một) điện thoại di động Nokia, màu đen, số sim 0901222343 (số sêri: 1357730102848190).

- 01 (một) chiếc xe mang biển số kiểm soát 64H1- 433.57.

Đền N1 tịch thu bị cáo Đỗ Xuân T:

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước tài sản tạm giữ đối với Đỗ Xuân T số tiền 20.345.000 đồng.

- 01 (một) điện thoại di động Oppo, số sim 0768674565 (số imei: 1863557051134810), hiện trạng màng hình bị nứt (mật khẩu mở máy 999999).

- 01 (một) chiếc xe mang biển số kiểm soát 64K1-338.65.

* Tiếp tục tạm giữ số tiền 31.595.000 đồng (ba mươi mốt triệu năm trăm chín mươi lăm ngàn đồng) (Ủy nhiệm chi của Phòng Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh V), để đảm bảo thi hành án.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/12/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh V và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long)

Luật sư Trần Ngọc T1 bào chữa chỉ định cho bị cáo Nguyễn Đức E trình bày: về tội danh và khung hình phạt như Cáo trạng truy tố thì luật sư không tranh luận. Luật sư chỉ đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo Đức E đã tự khai báo những lần phạm tội trước chưa bị phát hiện. Đồng thời, số tiền khi bắt giữ bị cáo Đức E thì bị cáo đồng ý nộp lại để sung vào ngân sách Nhà nước. Bị cáo đã thật thà khai báo, bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ theo các điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và 01 tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, cuối cùng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự để áp dụng mức hình phạt thấp nhất và đề nghị xem xét trả lại xe gắn máy thu giữ của bị cáo Đức E.

Các bị cáo Nguyễn Đức E và Đỗ Xuân T trình bày: khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung vụ án chỉ yêu cầu Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Những người tham gia tố tụng khác trình bày:

Chị Lý Thúy L trình bày: chị là vợ của bị cáo Đức E số tiền thu giữ của bị cáo trong đó có số tiền 10.500.000 đồng chị đồng ý không nhận lại mà để nộp phần thu lợi bất chính của bị cáo để sung ngân sách Nhà nước, chị trúng số cho tiền chồng là bị cáo Đức E mua xe gắn máy chị yêu cầu xem xét cho chị xin nhận lại xe.

Các bị cáo Nguyễn Đức E và Đỗ Xuân T nói lời sau cùng: xin giảm nhẹ hình phạt, các bị cáo đã thật thà khai báo, ăn năn hối cải.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Luật sư Nguyễn Văn D vắng mặt, nhưng do bị cáo Đỗ Xuân T yêu cầu tiếp tục xét xử, không có luật sư bào chữa nên Hội đồng xét xử vụ án vắng mặt người bào chữa, theo khoản 2 Điều 291 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận: vào lúc 12 giờ, ngày 18/8/2023 Nguyễn Đức E và Đỗ Xuân T đang kiểm đếm chất ma túy, có tổng khối lượng 43,1409 gam (trong đó, loại Heroine là 31,7691 gam; loại Methamphetamine là 11,3718 gam), để giao nhau bán lại cho nhiều đối tượng nghiện, tại tổ C, khóm B, phường T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long thì bị lực Công an bắt quả tang. Quá trình bán trái phép chất ma túy Nguyễn Đức E thu lợi bất chính 20.000.000 đồng và Đỗ Xuân T thu lợi bất chính 12.000.000 đồng. Do đó, đủ cơ sở khách quan để quy kết hành vi của các bị cáo Nguyễn Đức E và Đỗ Xuân T đã phạm vào tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo điểm h khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tính chất của vụ án là đặc biệt nghiêm trọng, chất ma túy là chất nghiện có tác hại đặc biệt nguy hiểm đối với sức khỏe của con người. Các bị cáo đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy; với số lượng 43,1409 gam. Việc làm của các bị cáo đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước trong quản lý chất ma túy, trong khi Đảng và Nhà nước ta đang ra sức đấu tranh xóa loại tội phạm này.

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì lợi ích cá nhân của mình mà các bị cáo mua bán trái phép chất ma túy một cách trái pháp luật. Ma túy là một loại chất độc nguy hiểm có khả năng tàn phá sức sống, nguồn lực của một bộ phận thanh thiếu niên, làm gia tăng tỷ lệ người nghiện ma túy cho xã hội, tạo tiền đề phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác. Các bị cáo biết hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, các bị cáo thực hiện việc mua bán ma túy cho nhiều người và có 02 loại chất ma túy. Do đó, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt; đồng thời, còn răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy nhiên các bị cáo đã thật thà khai báo và tự khai báo ra những lần phạm tội trước chưa bị phát hiện, các bị cáo xuất thân từ thành phần nhân dân lao động.

Về xử lý vật chứng:

- Khi phá án Cơ quan điều tra có thu giữ những vật liên quan đến việc sử dụng ma túy nên tịch thu tiêu hủy, bao gồm:

- 04 (bốn) gói niêm phong: trong đó, 01 (môt) gói niêm phong số 595/01; 01 (một) gói niêm phong số 595/02; 01 (một) gói niêm phong số 595/03; 01 (một) gói niêm phong số 595/04, cả 04 (bốn) gói đều ghi ngày 22/8/2023, dấu tròn đỏ của Phòng Kỷ thuật hình sự - Công an tỉnh V, bên giao Nguyễn Thành T7, bên nhận Võ Minh T6.

- 01 (một) kéo cắt chỉ.

- 01 (một) hộp nhựa hình tròn màu đỏ.

Tuyên tịch thu của bị cáo Nguyễn Đức E:

- 01 (một) điện thoại di động Nokia, màu đen, số sim 0901222343 (số sêri: 1357730102848190).

- 01 (một) chiếc xe mang biển số kiểm soát 64H1- 433.57.

Tuyên tịch thu của bị cáo Đỗ Xuân T:

- 01 (một) điện thoại di động Oppo, số sim 0768674565 (số imei: 1863557051134810), hiện trạng màng hình bị nứt (mật khẩu mở máy 999999).

- 01 (một) chiếc xe mang biển số kiểm soát 64K1-338.65. Buộc bị cáo Nguyễn Đức E nộp số tiền 20.000.000 đồng và bị cáo Đỗ Xuân T nộp số tiền12.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.

* Tiếp tục tạm giữ số tiền 31.595.000 đồng (ba mươi mốt triệu năm trăm chín mươi lăm nghìn đồng) (Ủy nhiệm chi của Phòng Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh V), để đảm bảo thi hành án.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/12/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh V và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long)

Về án phí: do bị kết án nên các bị cáo Nguyễn Đức E và Đỗ Xuân T phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đức E và Đỗ Xuân T phạm vào tội: Mua bán trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251, các điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Đức E 17 (mười bảy) năm tù.

Thời gian chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày 18/8/2023.

Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251, các điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: bị cáo Đỗ Xuân T 15 (mười lăm) năm tù.

Thời gian chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày 18/8/2023.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng các điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tuyên tịch thu tiêu hủy các vật sau:

- 04 (bốn) gói niêm phong: trong đó, 01 (một) gói niêm phong số 595/01; 01 (một) gói niêm phong số 595/02; 01 (một) gói niêm phong số 595/03; 01 (một) gói niêm phong số 595/04, cả 04 (bốn) gói đều ghi ngày 22/8/2023, dấu tròn đỏ của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh V, bên giao Nguyễn Thành T7, bên nhận Võ Minh T6.

- 01 (một) kéo cắt chỉ.

- 01 (một) hộp nhựa hình tròn màu đỏ.

Tuyên tịch thu của bị cáo Nguyễn Đức E gồm:

- 01 (một) điện thoại di động Nokia, màu đen, số sim 0901222343 (số sêri: 1357730102848190).

- 01 (một) chiếc xe mang biển số kiểm soát 64H1- 433.57.

Tuyên tịch thu của bị cáo Đỗ Xuân T gồm:

- 01 (một) điện thoại di động Oppo, số sim 0768674565 (số imei: 1863557051134810), hiện trạng màng hình bị nứt (mật khẩu mở máy 999999).

- 01 (một) chiếc xe mang biển số kiểm soát 64K1-338.65.

Buộc bị cáo Nguyễn Đức E nộp số tiền 20.000.000 đồng và bị cáo Đỗ Xuân T nộp số tiền 12.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.

* Tiếp tục tạm giữ số tiền 31.595.000 đồng (ba mươi mốt triệu năm trăm chín mươi lăm nghìn đồng). Trong đó của bị cáo Nguyễn Đức E số tiền 11.250.000 đồng, bị cáo Đỗ Xuân T số tiền 20.345.000 đồng (Ủy nhiệm chi của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh V), để đảm bảo thi hành án.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/12/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh V và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long)

3. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Nguyễn Đức E và Đỗ Xuân T mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai có mặt bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Báo cho tất cả biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để xin Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt. Thời hạn kháng cáo cũng 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hay từ ngày bản án được niêm yết theo quy định./.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ