- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn C phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2024/HS-ST Ngày 02 - 01 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Văn Nhu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Đức Minh và ông Phạm Thiên Viết.
- Thư ký phiên tòa: Bà H’ Ra Chen là Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Ứng – Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 62/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 60/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Hoàng Văn C, sinh năm 1993 tại tỉnh Lạng Sơn. Nơi cư trú: Bản Đ, xã Đ, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Hoàng Văn N, sinh năm 1962 và con bà Hoàng Thị H, sinh năm 1963; có vợ là Vy Thị T, sinh năm 1995 và 03 con, con lớn nhất inh năm 2013 và con nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/10/2023, hiện đang bị tạm giam – Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Đoàn Thúy Đ, sinh năm 1991;
Địa chỉ: Bản Đ, xã Đ, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông – Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ ngày 31/10/2023, Hoàng Văn C điều khiển xe mô tô biển số 48K1 – 168.17 từ nhà đến bờ đập bản Ninh Hòa, xã Đắk Ngo, huyện Tuy Đức để mua ma túy về sử dụng, C gặp một người đàn ông (chưa xác định nhân thân lai lịch) và nhờ người đàn ông này mua dùm ma túy với số tiền 50.000 đồng thì được người đàn ông này đồng ý. C đưa số tiền 100.000 đồng thì được người đàn ông này trả lại số tiền 50.000 đồng. Sau khi nhận tiền, người đàn ông đi bộ vào bản Ninh Hòa, khoảng 30 phút sau quay lại đưa cho C một gói giấy màu trắng bên trong chứa ma túy. C cầm gói ma túy trong lòng bàn tay phải rồi điều khiển xe mô tô biển số 48K1-168.17 đi về. Khi đi đến đoạn đường bê tông thuộc bản Tân Lập, xã Đắk Ngo, huyện Tuy Đức thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Đức bắt quả tang. Thu giữ của Hoàng Văn C số tiền 50.000 đồng, 01 xe mô tô biển số 48K1- 168.17 và 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất rắn màu trắng nghi là ma túy.
Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy đối với Hoàng Văn C ngày 23/11/2023, xác định: Hoàng Văn C có nghiện ma túy dạng Heroine.
Tại kết luận giám định số 407/KL-KTHS ngày 06/11/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông, kết luận: Chất rắn màu trắng dạng bột đựng trong 01 gói giấy được niêm phong trong bì thư gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng mẫu là 0,1797 gam. Hoàn lại sau giám định khối lượng 0,1630 gam.
Cáo trạng số: 01/CT-VKS – TĐ ngày 13/12/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức truy tố bị cáo Hoàng Văn C về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như tại Cơ quan điều tra và thừa nhận Cáo trạng của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức truy tố bị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng, không oan.
Kết quả tranh luận tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Sau khi xem xét các chứng cứ buộc tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Văn C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 31/10/2023.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, thuộc diện hộ nghèo nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Đức đã trả lại xe mô tô biển số 48K1- 168.17 cho chị Đoàn Thúy Điệp là chủ sở hữu hợp pháp.
Tịch thu tiêu hủy 0,1630 gam ma túy Heroine (hoàn lại sau giám định).
Trả lại cho Hoàng Văn C số tiền 50.000 đồng do không liên quan đến hành vi phạm tội.
Đối với người đàn ông chưa xác định nhân thân, lai lịch là người mua ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra không xác định được nhân thân nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với chị Đoàn Thúy cho bị cáo mượn xe mô tô biển số 48K1-168.17 để đi mua ma túy. Tuy nhiên, chị Đ không biết bị cáo sử dụng xe mô tô vào việc phạm tội nên không có căn cứ để xử lý.
Tại phiên tòa, bị cáo rất hối hận và không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Tuy Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với tài liệu, chứng cứ được thu thập lưu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa và phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án, thể hiện: Vào khoảng 15 giờ, ngày 31/10/2023 tại đoạn đường bê tông thuộc bản Tân Lập, xã Đắk Ngo, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông, Cơ quan CSĐT Công an huyện Tuy Đức đã phát hiện và bắt quả tang Hoàng Văn C đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, là Heroine nhằm mục đích để sử dụng. Theo kết luận giám định số 407/KL-KTHS ngày 06/11/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông, kết luận: Chất rắn màu trắng dạng bột đựng trong 01 gói giấy được niêm phong trong bì thư gửi giám định là ma túy, loại Heroine có khối lượng mẫu là 0,1797 gam. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Hoàng Văn C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và Cáo trạng của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức truy tố bị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Tại điểm c khoảng 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c)…Methamphetamine có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05 gam;
Xét tính chất, mức độ phạm tội do bị cáo gây ra là nghiêm trọng, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý của Nhà nước về cất giữ, sử dụng chất ma túy, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng do ý thức coi thường pháp luật, chỉ vì để thỏa mãn nhu cầu cá nhân bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Do vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của mình đã gây ra.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, thuộc diện hộ nghèo tại địa phương nơi cư trú. Ngoài ra bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng đặc biệt khó khăn nên khả năng nhận thức pháp luật còn nhiều hạn chế nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật Nhà nước.
Về hình phạt: Từ những phân tích nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy, tuy khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ trái phép ít nhưng cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định thì mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
Về vật chứng vụ án: Đối với 0,1630 gam ma túy Heroine (hoàn lại sau giám định) không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Đức đã trả lại xe mô tô biển số 48K1- 168.17 cho chị Đoàn Thúy Đ chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp cần chấp nhận.
Đối với số tiền 50.000 đồng thu giữ của bị cáo do không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
Đối với người đàn ông chưa xác định nhân thân, lai lịch là người mua ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với chị Đoàn Thúy Đ cho bị cáo mượn xe mô tô biển số 48K1-168.17 để đi mua ma túy. Tuy nhiên, chị Đ không biết bị cáo sử dụng xe mô tô vào việc phạm tội nên không có căn cứ để xử lý.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, thuộc diện hộ nghèo tại địa phương nơi cư trú nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức tại phiên tòa là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật cần chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, thuộc diện hộ nghèo và là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng đặc biệt khó khăn nên được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Hoàng Văn C 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 31/10/2023.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy 0,1630 gam ma túy là Heroine (hoàn lại sau giám định).
(Vật chứng có đặc điểm như trong biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18/12/2023 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Tuy Đức và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Đức).
Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn C số tiền 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng) do không liên quan đến hành vi phạm tội.
Chấp nhận Cơ quan CSĐT Công an huyện Tuy Đức đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 mô tô biển số 48K1- 168.17 cho chị Đoàn Thúy Điệp là chủ sở hữu hợp pháp.
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Hoàng Văn C được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND tỉnh Đắk Nông; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông; - Phòng PV27 - CA tỉnh Đắk Nông; - VKSND huyện Tuy Đức; - CA huyện Tuy Đức; - Chi Cục THADS huyện Tuy Đức; - Bị cáo; người có QLNVLQ; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà (Đã ký và đóng dấu) Nông Văn Nhu |