- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Văn Trường - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ngô Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOA LƯ TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2024/HS-ST Ngày: 03 - 01 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOA LƯ - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Huệ.
Các hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Lý
Ông Nguyễn Văn Khuyến
- Thư ký phiên toà: Bà Giang Thị Mến - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 03/01/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 45/2023/TLST-HS ngày 24/11/2023. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2023/QĐXXST-HS ngày 20/12/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Ngô Văn T, sinh năm 1969 tại Ninh Bình; giới tính: nam; nơi cư trú: thôn thôn B, xã V, huyện N, tỉnh Ninh Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hoá: 4/10; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Ngô Văn T và con bà Phạm Thị T; có vợ là Cao Thị V và có 02 con: con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 1994; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/10/2023 đến ngày 16/10/2023 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng: chị Mai Thị K, sinh năm 1960 (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngô Văn T là người nghiện ma túy, hiện
- 1 -
đang làm thợ ghép cốt pha tại công trường xây dựng ỏ xã Ninh Phúc, thành phố Ninh Bình. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 11 giờ 30 phút ngày 07/10/2023, T thuê xe ôm của một người không quen biết đi từ công trường xây dựng ở xã Ninh Phúc đến khu vực cổng đá thuộc phố Thiên Sơn, thị trấn Thiên Tôn, huyện Hoa Lư với mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây T gặp và đưa cho người tên là H (không rõ họ và địa chỉ, T và H có mối quan hệ quen biết từ trước và cũng là người nghiện ma túy) 200.000 đồng nhờ H mua hộ ma túy Heroine, H đồng ý và cầm 200.000 đồng của T đi khoảng 15 phút sau quay lại đưa cho T 01 gói nhỏ được gói bên ngoài bằng giấy màu trắng bên trong có chất bột dạng cục màu trắng rồi bỏ đi luôn. Mua được ma túy T cất vào túi quần bò phía sau đang mặc và đi bộ ra đường quốc lộ 1A để đón xe về chỗ làm tại xã Ninh Phúc, thành phố Ninh Bình thì bị Tổ công tác Công an xã Ninh Mỹ phối hợp với Công an thị trấn Thiên Tôn phát hiện T có biểu hiện ghi vấn nên đã yêu cầu kiểm tra hành chính. Thấy vậy T đã tự giác lấy gói ma túy ở túi quần phía sau ra giao nộp và khai nhận đó là gói ma túy Heroine mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã thu giữ của Ngô Văn T 01 gói nhỏ có đặc điểm được gói bên ngoài bằng giấy màu trắng bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng và niêm phong theo quy định, đồng thời đưa T cùng tang vật và mời người làm chứng về trụ sở Công an thị trấn Thiên Tôn lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hoa Lư đã tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng thu giữ của Ngô Văn Trường có khối lượng 0,17 gam, ký miệu M1 gửi đi giám định.
Tại bản kết luận giám định số 818/KLGĐ-PC09-MT ngày 15/10/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,1706 gam, là ma túy loại Heroine
Heroine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục I, số thứ tự 9 Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Quá trình điều tra Ngô Văn T đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình.
Tại bản Cáo trạng số 48/CT-VKSHL ngày 22/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư truy tố bị cáo Ngô Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư giữ quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:
- 2 -
[1]. Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị tuyên bố bị cáo Ngô Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Ngô Văn T từ 15 đến 18 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày tạm giữ từ ngày 07/10/2023.
Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung.
[2]. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 0,1040 gam ma túy, loại Heroine và toàn bộ phong bì niêm phong, vỏ gói ban đầu.
Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư.
Lời nói sau cùng của bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
. Về hành vi của bị cáo: tại phiên tòa bị cáo Ngô Văn T đã khai nhận như sau: bị cáo là người nghiện ma túy, nên khoảng 11 giờ 30 phút ngày 07/10/2023 bị cáo thuê xe ôm đến khu vực cổng đá thuộc thị trấn Thiên Tôn mua 0,1706 gam loại hêroin với giá 200.000 đồng của người đàn ông bị cáo không quen biết để sử dụng cho bản thân. Nhưng chưa kịp sử dụng thì khoảng 12 giờ 15 phút, tại trục đường phố Thiên Sơn, thị trấn Thiên Tôn tổ công tác Công an xã Ninh Mỹ và Công an thị trấn Thiên Tôn đang làm nhiệm vụ phát hiện và bắt quả tang.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng; phù hợp với bản kết luận giám định số số 818/KL- KTHS - MT ngày 15/10/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Ninh Bình và các chứng cứ, tài liệu có liên quan khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ cơ sở pháp lý khẳng định bị cáo có hành vi cất dấu 0,1706 gam ma túy, loại heroine để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện. Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự thì:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
- 3 -
a,................
b, ...............
c, Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR -11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
d, ...........................
2...
Như vậy, hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi nêu trên của bị cáo là cố ý và gây nguy hiểm cho xã hội. Trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về việc quản lý các chất ma túy. Bản thân bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy của mình bị Nhà nước cấm. Bị cáo nhận thức được nghiện ma túy là tệ nạn xã hội nguy hiểm mà cộng đồng đang ra sức lên án và loại trừ bởi ma túy ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người sử dụng, ảnh hưởng đến kinh tế, sự phát triển nòi giống, phá hoại hạnh phúc gia đình và là con đường lây nhiễm HIV phổ biến nhất hiện nay, đồng thời gây mất trật tự an toàn xã hội, làm gia tăng các tệ nạn xã hội như: Lừa đảo, trộm cắp…Nhận thức được hành vi mua bán ma túy bị pháp luật cấm và tác hại to lớn của ma túy như vậy nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện điều đó, chứng tỏ bị cáo có ý thức coi thường pháp luật.
.Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; khi bị yêu cầu kiểm tra đã tự giác giao nộp ma túy, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về hình phạt: Từ sự phân tích về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa nên cần áp dụng loại hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo.
. Về các vấn đề khác:
Về nguồn gốc số Heroine thu giữ của Ngô Văn T, T khai gặp và nhờ người có tên là H ở khu vực cổng đá thuộc phố Thiên Sơn, thị trấn
- 4 -
Thiên Tôn, huyện Hoa Lư mua hộ ma túy, nhưng T không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của H nên không có cơ sở để điều tra làm rõ.
. Đối với người đàn ông làm nghề xe ôm đã chở T đi mua ma túy, T không biết tên, tuổi, lai lịch địa chỉ cụ thể. Do vậy không đủ có cơ sở để xác minh làm rõ.
. Về hình phạt bổ sung: tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.” Tuy nhiên, bị cáo mua ma túy để sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích kiếm lời nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đối với 0,1040 gam là ma túy, loại Heroine vật chứng còn lại thu giữ của Ngô Văn T là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu để tiêu hủy.
- 01 phong bì niêm phong, trên mặt phong bì có ghi: Mẫu vật còn lại thu giữ của Ngô Văn T ngày 07/10/2023, bên trong phong bì gồm 01 phong bì niêm phong ban đầu, 01 mảnh giấy màu trắng không rõ hình dạng kích thước; 01 phong bì niêm phong, trên mặt phong bì có ghi số 818/KL – KTHS-MT mẫu vật hoàn trả sau giám định vụ Ngô Văn T, xảy ra ngày 07/10/2023 tại thị trấn Thiên Tôn, huyện Hoa Lư không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
. Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hoa Lư, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- 5 -
1. Tuyên bố bị cáo Ngô Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 07/10/2023 .
2. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 0,1040 gam là ma túy, loại Heroine và toàn bộ phong bì niêm phong và vỏ gói ban đầu.
(Đặc điểm các vật chứng như biên bản giao vật chứng giữa công an huyện Hoa Lư và chi cục thi hành án huyện Hoa Lư ngày 28/11/2023).
3. Về án phí:
Áp dụng: khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Ngô Văn Trường phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
4. Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh NB; - VKSND huyện HL; - THADS huyện HL; - CA huyện HL; - Những người TGTT; - Lưu./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đã ký Đào Thị Huệ - 6 - |