- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Ngọc Hải Hà bị truy tố tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14.
- Căn cứ chính? Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2024/HS-ST Ngày: 16-01-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Dung.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Huỳnh Thị Thúy Nga – Trường tiểu học Tôn Đức Thắng.
Ông Võ Trọng Văn –Liên đoàn lao động huyện Đức Linh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Văn Liên, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Đinh Công Quảng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 80/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Võ Ngọc Hải H, sinh ngày 16 tháng 8 năm 2005 (đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 11 tháng 9 ngày) tại tỉnh Bình Thuận; thường trú: Số nhà M đường Đ, tổ H, thôn B, xã M, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Ngọc Tr và bà Lê Thị Hồng S; bị cáo chưa có vợ; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/9/2023 đến nay. Có mặt.
- Người làm chứng:
1. Anh Tô Quang H1. Vắng mặt.
2. Anh Nguyễn Minh B. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 25/7/2023, Công an xã M, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận tuần tra trên địa bàn xã. Khoảng 12 giờ cùng ngày tại ngã tư Tư Sữu thuộc thôn H, xã M, tổ tuần tra phát hiện có 03 thanh niên gồm: Võ Ngọc Hải H, sinh năm 2005, trú thôn B, xã M; Nguyễn Minh B, sinh năm 2003 trú thôn H, xã Đ, huyện T ngồi trên xe mô tô 86B7 – 42.399 (Võ Ngọc Hải H ngồi sau xe); Tô Quang H1, sinh năm 1993, trú thôn M, xã M đứng trên đường. Khi thấy lực lượng công an, Võ Ngọc Hải H nhảy xuống xe bỏ chạy vào đường số H thuộc thôn H, xã M; nghi vấn nên lực lượng công an truy đuổi. Võ Ngọc Hải H chạy khoảng 30 m thì ném một bịch ni lon xuống đường. Lực lượng công an bắt giữ H và thu giữ bịch ni lon H ném xuống đường là dạng bịch được hàn kín kích thước (3,3 x 1,2)cm bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, sau đó kiểm tra trên người Tô Quang H1, thu giữ 01 bịch ni lon kích thước (2,7 x 1,3)cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. Võ Ngọc Hải H khai nhận bịch ni lon H ném xuống đường là ma túy đá. Tô Quang H1 khai nhận bịch ni lon thu giữ trên người H1 là ma túy đá H1 vừa mua của H giá 200.000 đồng. Công an xã M lập biên bản bắt người phạp tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng và đưa Võ Ngọc Hải H, Tô Quang H1 và Nguyễn Minh B về trụ sở làm việc.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng 09 giờ ngày 25/07/2023, Tô Quang H1 điện thoại cho Võ Ngọc Hải H đặt mua 02 bịch ma túy đá gồm 01 bịch 200.000 đồng và 01 bịch 300.000 đồng. H đồng ý. Sau đó, Võ Ngọc Hải H đi xe mô tô đến gần Bệnh viện đa khoa khu vực Nam Bình Thuận thuộc địa bàn xã N, huyện Đức Linh mua của một người thanh niên tên V (không rõ họ, địa chỉ) 02 bịch ma túy mang về để bán lại cho H1. Khoảng 12 giờ ngày 25/7/2023, Võ Ngọc Hải H và Tô Quang H1 điện thoại hẹn nhau tại ngã tư Tư Sữu thuộc thôn H, xã M để giao ma túy và giao tiền. Sau khi hẹn với H1 thì H điện thoại cho B nhờ B chở đi công việc. B chạy xe mô tô 86B7 – 42.399 đến nhà đón H. Khi gặp nhau, H điều khiển xe 86B7 – 42.399 chở B và mang theo 02 bịch ma túy đến ngã tư Tư Sữu mục đích bán cho H1. Đến nơi hẹn, vì chỉ mang theo 200.000 đồng nên H1 nói với H là H1 cầm cố điện thoại cho H để lấy luôn bịch ma túy 300.000 đồng nhưng H không đồng ý, vì vậy H chỉ bán cho H1 bịch ma túy 200.000 đồng. Bịch ma túy còn lại H cất vào túi quần sau bên phải cùng 200.000 đồng vừa bán ma túy cho H1. Khi thấy lực lượng công an tuần tra đến, H xuống xe bỏ chạy được khoảng 30m, thấy công an truy đuổi, H lấy bịch ma túy trong túi quần ra ném xuống đường thì bị công an bắt giữ và thu giữ bịch ma túy H ném xuống đường. Qua kiểm tra, lực lượng công an thu giữ trên người Tô Quang H1 01 bịch ma túy H vừa bán cho H1.
Tại Kết luận giám định số 932/KL- KTHS ngày 04/8/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bình Thuận kết luận:
Mẫu M1 (bịch ni lon được hàn kín, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng kích thước (3,3 x 1,2) cm, thu giữ dưới đất do Võ Ngọc Hải H ném xuống) gởi giám định có khối lượng 0,1439 gam là Methamphetamine.
Mẫu M2 (bịch nilon được hàn kín, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng kích thước (2,7 x 1,3) cm, thu giữ trên người Tô Quang H1) gởi giám định có khối lượng 0,0337 gam là Methamphetamine.
Về nguồn gốc ma túy: Võ Ngọc Hải H khai nhận mua ma túy của một người thanh niên tên V (không rõ nhân thân, lai lịch).
Quá trình điều tra, Võ Ngọc Hải H và các đối tượng liên quan khai nhận toàn bộ hành vi trên.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận giám định số 932/KL- KTHS ngày 04/8/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận nêu trên.
Tại cáo trạng số: 82/CT-VKS-HS ngày 01 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo Võ Ngọc Hải H về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về điều luật và hình phạt: Áp dụng Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51, Chương XII Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Võ Ngọc Hải H mức án từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng:
- Đề nghị tịch thu tiêu hủy:
+ 01 gói ni lon đã cắt lấy mẫu cùng 0,1130 gam mẫu M1 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 932/1, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận.
+ 01 gói ni lon đã cắt lấy mẫu cùng 0,0145 gam mẫu M2 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 932/2, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận.
- Đề nghị sung vào ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng thu giữ của Võ Ngọc Hải H do đây là tiền thu lợi bất chính từ việc mua bán ma túy.
Đối với xe mô tô hiệu Vision biển số 86B7 – 423.99 do Nguyễn Minh B sử dụng để chở H đi bán ma túy, đây là tài sản thuộc sở hữu của bà Trương Thị L (mẹ của B), vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Linh đã trả lại cho bà L.
Đối với người thanh niên tên V (chưa rõ nhân thân, lai lịch) bán ma túy cho Võ Ngọc Hải H, Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đức Linh đang tiếp tục điều tra xác minh khi nào có đủ cơ sở đề nghị xử lý sau.
Đối với Tô Quang H1, khi bắt quả tang thu giữ trên người H1 01 bịch ma túy có khối lượng 0,0337 gam Methamphetamine mua của Võ Ngọc Hải H mục đích để sử dụng. Hành vi của H1 không đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy, H1 không có các tình tiết định tội khác.
Qua điều tra xác định, Võ Ngọc Hải H nhờ Nguyễn Minh B sử dụng xe 86B7 – 423.99 chở đi công chuyện, B không biết chở Hà đi giao dịch mua bán ma túy nên không truy cứu.
Tại phiên tòa, bị cáo Võ Ngọc Hải H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không tranh luận, đối đáp gì. Bị cáo H không nói lời sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng tại phiên tòa: Tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng anh Tô Quang H1 và anh Nguyễn Minh B. Tuy nhiên, trong hồ sơ vụ án đã có lời khai của anh Tô Quang H1 và anh Nguyễn Minh B, việc vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ là phù hợp Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Về hành vi của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Võ Ngọc Hải H tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 12 giờ ngày 25/7/2023, tại ngã tư Tư Sữu thuộc thôn 2, xã M, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận, Võ Ngọc Hải H đã có hành vi bán cho Tô Quang H1, sinh năm 1993, cư trú tại thôn M, xã M huyện Đ, tỉnh Bình Thuận 01 gói ma túy có khối lượng 0,0337 gam loại Methamphetamine được chứa trong bịch nilon kích thước (2,7 x 1,3) cm hàn kín (thu giữ trên người Tô Quang H1), với giá 200.000 đồng; thu giữ của Võ Ngọc Hải H 01 gói ma túy có khối lượng 0,1439 gam loại Methamphetamine được chứa trong bịch ni lon kích thước (3,3 x 1,2) cm hàn kín bị H ném xuống đường. (Theo Kết luận giám định số 932/KL- KTHS ngày 04/8/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bình Thuận).
Bị cáo H khai nhận bịch ma túy bị cáo ném xuống đường là ma túy mang theo để bán cho Tô Quang H1, vì H1 không đủ tiền mua nên bị cáo cất vào túi quần sau bên phải.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số 82/CT-VKS-HS ngày 01 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo Võ Ngọc Hải H là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo Võ Ngọc Hải H thực hiện là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm việc quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây tác hại rất lớn cho bản thân, cho xã hội và gây mất trật tự trị an tại địa phương. Ma túy là tiền đề của tội phạm, hiện nay, Đảng, Nhà nước và toàn xã hội đang ra sức tuyên truyền cho người dân hiểu biết về tác hại của ma túy và ra sức phòng chống. Bị cáo vì muốn có tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng đã thực hiện tội phạm là xem thường pháp luật và bất chấp hậu quả. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý mức án phù hợp có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo nhằm giáo dục trực tiếp bị cáo và phòng ngừa chung, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo đoạn tuyệt với ma túy.
Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi (17 tuổi 11 tháng 9 ngày), nên áp dụng những quy định tại Chương XII để lựa chọn và quyết định hình phạt phù hợp cho bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo có nơi cư trú ổn định, chưa có tiền án, tiền sự.
Về hình phạt: Xét bị cáo phạm tội nghiêm trọng, xâm phạm việc quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, hành vi phạm tội của bị cáo ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo mức hình phạt phù hợp với quy định của Khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 gói ni lon đã cắt lấy mẫu cùng 0,1130 gam mẫu M1 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 932/1 và 01 gói ni lon đã cắt lấy mẫu cùng 0,0145 gam mẫu M2 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 932/2, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận, hai mẫu giám định này được kết luận là Methamphetamine, là chất cấm tàng trữ, cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với số tiền 200.000 đồng thu giữ của Võ Ngọc Hải H, đây là tiền thu lợi bất chính từ việc Hà bán ma túy cho Tô Quang H1, cần sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với xe mô tô hiệu Vision biển số 86B7 – 423.99 do Nguyễn Minh B sử dụng để chở H đi bán ma túy, đây là tài sản thuộc sở hữu của bà Trương Thị L (mẹ của B), vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Linh đã trả lại cho bà L là có căn cứ.
Đối với Tô Quang H1, khi bắt quả tang thu giữ trên người H1 01 bịch ma túy có khối lượng 0,0337 gam Methamphetamine mua của Võ Ngọc Hải H mục đích để sử dụng. Hành vi của H1 không đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy, do đó không có đủ cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự là có cơ sở.
Đối với người thanh niên tên V (chưa rõ nhân thân, lai lịch) bán ma túy cho Võ Ngọc Hải H, Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đức Linh đang tiếp tục điều tra xác minh khi nào có đủ cơ sở đề nghị xử lý sau.
Đối với Nguyễn Minh B sử dụng xe 86B7 – 423.99 chở Võ Ngọc Hải H đi giao ma túy cho Tô Quang H1, khi đi H không nói cho B biết là chở đi đâu nên B không biết việc giao dịch mua bán ma túy này, vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Linh không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với B là có cơ sở.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh là phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Linh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; người làm chứng cũng không khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 251, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Chương XII Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Khoản 2 Điều 106, Khoản 2 Điều 135, Khoản 2 Điều 136, Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14.
1. Tuyên bố bị cáo Võ Ngọc Hải H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Võ Ngọc Hải H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì số 932/1 và 932/2 được niêm phong bên ngoài có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận.
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng thu giữ của Võ Ngọc Hải H.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/01/2014 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Đức Linh và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đức Linh và Giấy nộp tiền ngày 15/01/2024 tại tài khoản ngân hàng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh)
3. Án phí sơ thẩm: Bị cáo Võ Ngọc Hải H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Thuận; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận; - VKSND tỉnh Bình Thuận; - VKSND huyện Đức Linh; - Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Linh; - CQTHAHS – Công an huyện Đức Linh; - Chi cục THADS huyện Đức Linh; - Bị cáo; - Lưu: VT, HSVA, THAHS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phan Thị Mỹ Dung |