vanban.org

Bản án 01/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 04/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Tr n Xuân D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Tr n Xuân D 09 (chín năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17 tháng 3 năm 2023. Tịch thu tiêu hủy: 01 Một g i niêm phong mang số vụ 571/2023 c ch ký niêm phong của Cán bộ điều tra và iám định viên. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TRẦN XUÂN D - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Tr n Xuân D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/HS-ST
Ngày 04-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Ng c Cảnh;

Ông Thái Văn Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Văn Bé - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa Huệ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 04 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 236/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 314/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Tr n Xuân D, sinh ngày 24 tháng 5 năm 1984 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: 9/9 đường 23, khu phố 2, phường T, Qu n 7, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở: Không cư trú n định; nghề nghiệp: Không; trình độ h c vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tr n Xuân A và bà Lâm Thị B; bị cáo chưa c v , con; tiền án: Ngày 25/10/2006, Tòa án nhân dân thị x Thủ D u Một, t nh Bình Dương xử phạt 02 năm tù về tội “trộm c p tài sản” theo bản án số 127/2006/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/02/2008. Ngày 17/9/2009, Tòa án nhân dân huyện Phú iáo, t nh Bình Dương xử phạt 03 năm tù về tội “tàng tr trái phép chất ma túy” và 02 năm tù về tội “trộm c p tài sản” theo bản án số 48/2009/HSST, chấp hành xong án phạt tù ngày 20/12/2013. Ngày 21/01/2016, Tòa án nhân dân Qu n 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 08 năm 6 tháng tù về tội “tàng tr trái phép chất ma túy” theo bản án số 41/2016/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/02/2023; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 12/7/2002, Chủ tịch y ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định đưa vào cơ sở giáo dục thời gian 24 tháng theo quyết định số 956/QĐ-UB, đến ngày 14/6/2004 chấp hành xong quyết định; bị b t, tạm gi , tạm giam từ ngày 17/3/2023 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Bà Nguyễn Ng c L, sinh năm 1995 v ng mặt ;

Địa ch : p 1, x D, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Ông Nguyễn Trung H, sinh năm 1995 v ng mặt .

Thường trú: p E, x K, huyên M, t nh Bến Tre.

Nơi ở hiện tại: 102/6 đường liên khu 4 - 5, phường N, qu n I, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c t m t t như sau:

Vào lúc 13 giờ 15 phút ngày 17/3/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Củ Chi phối h p Công an x D, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành kiểm tra hành chính nhà ngh 205 thuộc ấp 5, xã D, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi kiểm tra đến phòng số 5 lúc này trong phòng c Tr n Xuân D, Nguyễn Trung H và Nguyễn Ng c L. Qua kiểm tra phát hiện trong túi qu n phía trước bên phải D đang mặc c 03 g i nylon chứa tinh thể không màu. D khai là ma túy đá mua của một người thanh niên X (không rõ lai lịch với giá 3.400.000 đồng tại Qu n 10, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đ , D mang đến huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh bán cho một người thanh niên tên Y (không rõ lai lịch với giá 4.500.000 đồng, nhưng chưa bán thì bị Công an kiểm tra phát hiện. Công an x D l p biên bản b t người phạm tội quả tang đối với Tr n Xuân D, thu gi của D 03 g i nylon chứa tinh thể không màu và 01 điện thoại di động hiệu Itel.

Tại Kết lu n giám định số 2565/KL-KTHS ngày 24/3/2023 của Phòng Kỹ thu t hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết lu n: Tinh thể không màu trong 03 g i nylon đư c niêm phong bên ngoài c dấu vân tay, ch ký ghi tên Tr n Xuân D và hình dấu Công an x D, huyện C đều là ma túy ở thể r n, c t ng khối lư ng 8,5917g (tám phẩy năm chín một bảy gam), loại Methamphetamine.

V t chứng thu gi : 01 (Một g i niêm phong mang số vụ 571/2023 c ch ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên; 01 (Một ĐTDĐ hiệu Itel số Imei1: 355802100182823 đ qua sử dụng; 01 Một điện thoại di động hiệu Iphone số Imei: 357276095136052; 01 Một điện thoại di động hiệu OPPO số Imei: 866376045149959; 01 Một xe g n máy BS: 67M5 - 8122 số máy VKVIP52FMH-R421998 số khung RMKWCH4UM6Q421998; 01 Một xe g n máy BS: 71B4 - 059.70 số máy không rõ số khung MH1JM5118KK322853.

Tại Cáo trạng số 226/CT-VKS.CC ngày 02 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đ truy tố bị can Tr n Xuân D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điểm i, q Khoản 2 Điều 251 của Bộ lu t Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Tr n Xuân D thừa nh n hành vi phạm tội và khai rằng: Bị cáo là người nghiện ma túy. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 16/3/2023, c người thanh niên tên Y g i điện cho bị cáo hỏi mua 4.500.000 đồng chất ma túy và hẹn đến khu vực x D, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh để giao ma túy và nh n tiền, bị cáo đồng ý hẹn sáng hôm sau sẽ liên lạc. Khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, bị cáo đến Qu n 10, Thành phố Hồ Chí Minh gặp người thanh niên X mua 3.400.000 đồng chất ma túy mang về khách sạn 99 thuộc phường N, qu n I, Thành phố Hồ Chí Minh và lấy một ít ra sử dụng. Ma túy còn lại bị cáo phân thành 03 g i. Đến 08 giờ 00 phút ngày 17/3/2023, bị cáo điện thoại cho Nguyễn Trung H đến khách sạn chở bị cáo đến huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh n i là đi công việc. H đồng ý. Bị cáo lấy 03 g i ma túy bỏ vào túi qu n trước bên phải ra trước khách sạn chờ H tới. H điều khiển xe máy biển số 71B4 - 059.70 chở bị cáo đến x D, huyện C. Bị cáo thuê phòng của nhà ngh 205 thuộc ấp 5, x D, huyện C chờ Bảo đến để bán chất ma túy. Trong lúc chờ Y đến, bị cáo điện thoại cho người bạn tên L rủ đến phòng chơi thì L đồng ý. Khoảng 10 phút sau, L đến phòng số 05 ở cùng bị cáo và H. Khoảng 13 giờ 15 phút cùng ngày, Công an kiểm tra phòng số 05 phát hiện bị cáo đang cất giấu g i nylon chứa tinh thể không màu. Bị cáo khai là chất ma túy nên Công an l p biên bản b t gi người phạm tội quả tang, thu gi của bị cáo g i nylon chứa chất ma túy, 01 điện thoại di động hiệu Itel. Bị cáo bán chất ma túy cho người tên Y mới l n đ u, chưa bán đư c thì bị công an b t gi .

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi gi quyền công tố phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nh ng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng Điểm i, q Khoản 2 Điều 251, Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ lu t Hình sự xử phạt bị cáo Tr n Xuân D mức án từ 09 (chín năm tù đến 10 (mười) năm tù.

Về xử lý v t chứng: Áp dụng Khoản 2 Điều 106 của Bộ lu t Tố tụng hình sự đề nghị:

Tịch thu tiêu hủy 01 Một gói niêm phong mang số vụ 571/2023 c ch ký niêm phong của Cán bộ điều tra và iám định viên.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 Một ĐTDĐ hiệu Itel số Imei1: 355802100182823 đ qua sử dụng.

01 Một điện thoại di động hiệu Iphone số Imei: 357276095136052; 01 Một điện thoại di động hiệu OPPO số Imei: 866376045149959;

01 Một xe g n máy BS: 67M5 - 8122 số máy VKVIP52FMH-R421998 số khung RMKWCH4UM6Q421998; 01 Một xe g n máy BS: 71B4 - 059.70 số máy không rõ số khung MH1JM5118KK322853. Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Củ Chi tách khỏi vụ án, giao lại cho Công an xã Hòa Phú, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xử lý theo thẩm quyền.

Bị cáo Tr n Xuân D không tranh lu n, không tự bào ch a.

Bị cáo Tr n Xuân D n i lời sau cùng: Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nh n định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan c thẩm quyền tiến hành tố tụng, người c thẩm quyền tiến hành tố tụng:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ lu t Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không c ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đ , các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đ thực hiện đều h p pháp.

Về tội danh; điều lu t áp dụng; tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Bị cáo Tr n Xuân D c tiền án về tội phạm rất nghiêm tr ng đã có hành vi tàng tr trái phép chất ma túy c khối lư ng 8,5917g, loại Methamphetamine nhằm mục đích mua bán. Bằng hành vi trên bị cáo Tr n Xuân D đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt đư c quy định tại Điểm i, q Khoản 2 Điều 251 của Bộ lu t Hình sự. Do đ Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố bị cáo Tr n Xuân D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là c căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp lu t.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho x hội, đ xâm phạm đến tr t tự quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản lý dư c liệu, dư c phẩm độc hại, gây mất tr t tự an toàn x hội, gây ảnh hưởng đến đời sống và sinh hoạt tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo nh n thức rõ việc mua bán trái phép chất ma túy là sai trái, phạm pháp nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên đi đến hành động phạm tội nhằm thỏa mãn động cơ tư l i cá nhân bị cáo. Do v y, Hội đồng xét xử thấy c n phải xử lý bị cáo bằng một hình phạt nghiêm phù h p quy định pháp lu t.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, xét tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử áp dụng Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ lu t Hình sự để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo ph n nào về hình phạt là c căn cứ.

Về hình phạt b sung:

Bị cáo Tr n Xuân D không c nghề nghiệp n định. Bị cáo mua bán chất ma túy nhằm mục đích c chất ma túy sử dụng. Hội đồng xét xử xét không c n thiết áp dụng hình phạt b sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại Điều 32 và Khoản 5 Điều 251 của Bộ lu t Hình sự.

Về v t chứng vụ án:

01 Một g i niêm phong mang số vụ 571/2023 c ch ký niêm phong của Cán bộ điều tra và iám định viên, Hội đồng xét xử xét c n tịch thu tiêu hủy.

01 Một ĐTDĐ hiệu Itel số Imei1: 355802100182823 đ qua sử dụng là tài sản bị cáo dùng vào việc phạm tội. Hội đồng xét xử xét c n tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

01 Một điện thoại di động hiệu Iphone số Imei: 357276095136052; 01 Một điện thoại di động hiệu OPPO số Imei: 866376045149959;

01 Một xe g n máy BS: 67M5 - 8122 số máy VKVIP52FMH-R421998 số khung RMKWCH4UM6Q421998; 01 Một xe g n máy BS: 71B4 - 059.70 số máy không rõ số khung MH1JM5118KK322853. Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Củ Chi tách khỏi vụ án, giao lại cho Công an xã D, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh xử lý theo thẩm quyền nên Hội đồng xét xử không xét.

Về các vấn đề khác:

Bị cáo D khai c người tên X không rõ lai lịch là người bán trái phép chất ma túy cho bị cáo và người tên Y (không rõ lai lịch là người mua chất ma túy của bị cáo do chưa xác định rõ lai lịch nên cơ quan cảnh sát điều tra đề nghị loại trừ ra khỏi vụ án, khi nào làm rõ xử lý sau. Đối với Nguyễn Trung H có hành vi chở bị cáo D đến x D, huyện C để bị cáo D bán trái phép chất ma túy, H không biết D nhờ chở đến huyện Củ Chi để bán trái phép chất ma túy nên cơ quan điều tra không xử lý, Hội đồng xét xử thấy phù h p nên không xét.

Về nghĩa vụ chịu án phí:

Buộc bị cáo Tr n Xuân D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Bộ lu t Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của y ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Tr n Xuân D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào Điểm i, q Khoản 2 Điều 251, Điều 38, Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ lu t Hình sự.

Xử phạt bị cáo Tr n Xuân D 09 (chín năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17 tháng 3 năm 2023.

Căn cứ vào Điểm a, b Khoản 1 Điều 47 của Bộ lu t Hình sự và Khoản 2 Điều 106 của Bộ lu t Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 Một g i niêm phong mang số vụ 571/2023 c ch ký niêm phong của Cán bộ điều tra và iám định viên.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 Một ĐTDĐ hiệu Itel số Imei1: 355802100182823 đ qua sử dụng.

(Các v t chứng trên đư c liệt kê tại Phiếu nh p kho v t chứng số 199/PNK ngày 17 tháng 8 năm 2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi).

Căn cứ vào Điều 135 và Điều 136 của Bộ lu t Tố tụng hình sự, Lu t Phí và lệ phí năm 2015, Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của y ban thường vụ Quốc hội.

Án phí hình sự sơ thẩm 200.000 hai trăm nghìn) đồng buộc bị cáo Tr n Xuân D phải chịu.

Bị cáo c mặt tại phiên tòa c quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người c quyền l i, nghĩa vụ liên quan đến vụ án v ng mặt tại phiên tòa c quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nh n đư c bản án hoặc kể từ ngày bản án đư c niêm yết.

Trường h p bản án đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 Lu t Thi hành án dân sự thì người đư c thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự c quyền thỏa thu n thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Lu t Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đư c thực hiện theo quy định tại Điều 30 Lu t Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ