vanban.org

Bản án 01/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Thế M được ly hôn với bà Phan Thị V. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và gia đình sơ thẩm"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAM RANH
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 12/01/2024
V/v “Ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phùng Văn Thức

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Lê Hùng Việt

- Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Nhật - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 167/2023/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2023 về “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2023.

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thế M, sinh năm: 1989

Nơi cư trú: Thôn 5, xã Tiên S, huyện Tiên Ph, tỉnh Quảng N. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Bà Phan Thị V, sinh năm: 1986

Nơi cư trú: Tổ dân phố Nghĩa L, phường Cam Ngh, thành phố Cam R, tỉnh Khánh H. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện và bản tự khai Nguyên đơn trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chúng tôi tự nguyện sống chung với nhau từ năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tiên S, huyện Tiên Ph, tỉnh Quảng N. Theo giấy chứng nhận kết hôn số 07 ngày 20/3/2020, chúng tôi tự tìm hiểu và chung sống với nhau trên tinh thần tự nguyện không ai ép buộc. Trong suốt quá trình chung sống, thời gian đầu sống hạnh phúc nhưng kể từ năm 2022 thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, chúng tôi đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không được. Nay bản thân tôi nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, chúng tôi không thể sống chung với nhau được nữa nên yêu cầu Tòa án cho tôi được ly hôn với bà Phan Thị V.

- Về con chung: Có 01 con chung là Nguyễn Phan Nhật H, sinh ngày 14/6/2020. Sau ly hôn tôi yêu cầu giao cháu Nguyễn Phan Nhật H cho bà Phan Thị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến tuổi trưởng thành. Nguyên đơn cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 2.000.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn có bản tự khai gửi đến Tòa án ngày 29/11/2023: Tôi với ông Nguyễn Thế M có đăng ký kết hôn vào năm 2020 tại Ủy ban nhân dân dân xã Tiên S, huyện Tiên Ph, tỉnh Quảng N trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 07/2020. Quá trình chung sống, thời gian đầu sống hạnh phúc, đến năm 2022 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, chúng tôi đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không được. Nay bản thân tôi nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, không thể sống chung với nhau được nữa nên ông Nguyễn Thế M yêu cầu ly hôn, tôi đồng ý ly hôn với ông Nguyễn Thế M.

- Về con chung: Có 01 con chung là Nguyễn Phan Nhật H, sinh ngày 14/6/2020. Sau ly hôn tôi yêu cầu giao cháu Nguyễn Phan Nhật H cho tôi (Phan Thị V) trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến tuổi trưởng thành. Yêu cầu ông Nguyễn Thế M cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) cho đến khi con đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của người tiến hành tố tụng; Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn có lời khai và có đơn xin xét xử vắng mặt chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tòa án đã thực hiện đầy đủ thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về Nội dung: Đề nghị chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông Nguyễn Thế M được ly hôn với bà Phan Thị V. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Phan Nhật H, sinh ngày 14/6/2020 cho bà Phan Thị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu đến tuổi trưởng thành, ông Nguyễn Thế M phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 2.000.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

Về tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, quyết định tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn, bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Thế M và bà Phan Thị V kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tiên S, huyện Tiên Ph, tỉnh Quảng N và được cấp chứng nhận kết hôn số 07 ngày 20/3/2020. Đây là hôn nhân hợp pháp. Qua lời khai của nguyên đơn, bị đơn có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng: Quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn không hạnh phúc, có nhiều mâu thuẫn, nguyên đơn, bị đơn khẳng định không còn tình cảm, giữa nguyên đơn và bị đơn mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với pháp luật, bị đơn có bản tự khai gửi đến Tòa án cũng đồng ý ly hôn với nguyên đơn. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn cho ly hôn với bị đơn.

Về con chung: Có 01 con chung là Nguyễn Phan Nhật H, sinh ngày 14/6/2020. Hiện tại cháu H đang ở chung với bị đơn và còn nhỏ nên cần sự chăm sóc của người mẹ, ông Nguyễn Thế M cũng đồng ý giao con chung cho bà V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy, cần giao con chung là Nguyễn Phan Nhật H cho bà Phan Thị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu đến tuổi trưởng thành. Ông Nguyễn Thế M phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 2.000.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

Án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật về ly hôn, về cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Điều 228, Điều 271, Điều 273 và Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự;

- Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

1/ Về quan hệ hôn nhân:

Ông Nguyễn Thế M được ly hôn với bà Phan Thị V.

2/ Về con chung:

- Giao con chung là cháu Nguyễn Phan Nhật H, sinh ngày 14/6/2020 cho bà Phan Thị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu đến tuổi trưởng thành. Ông Nguyễn Thế M phải cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) kể từ tháng 02 năm 2024 cho đến khi con đủ 18 tuổi.

- Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp chăm sóc nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung.

3/ Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn không có yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

4/ Án phí: Ông Nguyễn Thế M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0002589 ngày 23/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh. Ông Nguyễn Thế M còn phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về “Cấp dưỡng nuôi con”.

* Quy định chung: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5/ Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ