vanban.org

Bản án 01/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của chị Đinh Thị Y.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đinh Thị Y được ly hôn anh Đinh Văn D. Về con chung: Chị Đinh Thị Y là người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục Đinh Thị Hoài T, sinh ngày 02/5/2009 và Đinh Thành N, sinh ngày 17/5/2014 cho đến khi các con đủ 18 tuổi có khả năng lao động hoặc có sự th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đinh Thị Yên - Bùi Văn Duẩn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của chị Đinh Thị Y.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MAI CHÂU
TỈNH HOÀ BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

–––––––––––
Bản án số: 01/2024/HNGĐ-ST
Ngày 09/01/2024
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU, TỈNH HÒA BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Hưng.

- Các hội thẩm nhân dân:1.Ông Lường Khắc Tiệp

2. Bà Lường Thị Thảo

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Hà Thế Anh – Thư ký Toà án nhân dân

huyện Mai Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu tham gia phiên toà: Ông Triệu Văn Mừng - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện M xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 58/2023/TLST-HNGĐ ngày 20/10/2023, về việc xin ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 20/12/2023 giữa các đương sự.

Nguyên đơn: Chị Đinh Thị Y, sinh năm 1988; Nơi cư trú: Xóm H, xã T, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.

Bị đơn: Anh Đinh Văn D, sinh năm 1988; Nơi cư trú: Xóm H, xã T, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Hiện đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại Cơ ở cai nghện ma túy số 2. Địa chỉ: Thị trấn V, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Đinh Thị Yên trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đinh Văn D tìm hiểu nhau trên cơ sở tự nguyện đã được UBND xã Noong Luông (nay là T), huyện M, tỉnh Hòa Bình cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 30/7/2008. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống tại nhà bố mẹ của anh Duẩn tại Xóm H, xã T, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Trong suốt thời gian chung sống anh Duẩn không tu chí làm ăn mà còn mắc nhiều tệ nạn như cờ bạc, rượu chè và đặc biệt là nghiện ma túy. Gia đình đã khuyên can nhiều lần nhưng anh Duẩn không thay đổi. Đến tháng 8/2022 anh Duẩn bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 2, địa chỉ: Thị trấn V, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Nay nhận thấy tình cảm không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên chị Đinh Thị Y đề nghị Tòa án giải quyết để chị được ly hôn với anh Đinh Văn D.

Về con chung hiện nay chị và anh Đinh Văn D có 02 con chung là Đinh Thị Hoài T, sinh ngày 02/5/2009 và Đinh Thành N, sinh ngày 17/5/2014. Vì anh Đinh Văn D đang phải đi cai nghiện nên chị đề nghị Tòa án giải quyết là giao cả 02 con cho chị là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị chưa yêu cầu anh Duẩn cấp dưỡng nuôi con, nhưng anh Duẩn có quyền thăm con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh Đinh Văn D không có nên không đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết.

Tại phiên toà hôm nay chị Đinh Thị Y giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình và xin nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Tại bản tự khai ngày 26/10/2023 bị đơn anh Đinh Văn Duẩn trình bày:

Anh công nhận chị Đinh Thị Y trình bày về quá trình kết hôn, con chung, tài sản chung và nợ chung là đúng sự thật. Anh Duẩn và chị Yên đã tự nguyện kết hôn với nhau và có 02 con chung là Đinh Thị Hoài T và Đinh Thành N hiện đang sinh sống tại xóm H, xã T, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Trong quá trình chung sống anh và chị Yên không có tài sản chung, nợ chung.

Trước đơn yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị Y anh đồng ý ly hôn. Về con chung anh Đinh Văn D đồng ý để chị Đinh Thị Y là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm giáo, giáo dục con Đinh Thị Hoài T, sinh ngày 02/5/2009. Anh đề nghị tòa giải quyết giao con Đinh Thành N cho ông bà nội (là bố mẹ đẻ của anh Đinh Văn D) chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục .

Do điều kiện anh đang phải chấp hành cai nghiện bắt buộc nên không thể có mặt để tham gia phiên tòa. Ngày 26/10/2023 anh có đơn đề nghị xét xử vắng mặt anh, căn cứ vào ý trí, nguyện vọng tại bản tự khai đã gửi đến tòa án.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về quá trình tiến hành tố tụng của Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa các thành viên Hội đồng xét xử đã có mặt đầy đủ, không có trường hợp phải thay đổi người tiến hành tố tụng. Trình tự hỏi tại phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của phiên tòa dân sự sơ thẩm nên không yêu cầu khắc phục vi phạm về thủ tục tố tụng.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Những người tham gia tố tụng nguyên đơn có mặt, Bị đơn vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Tòa án nhân dân huyện M tiến hành xét xử vụ kiện là đúng theo khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Trên cơ sở nội dung vụ án đã được thể hiện qua phần thủ tục hỏi công khai tại phiên tòa, nhận thấy mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng giữa chị Đinh Thị Y và anh Đinh Văn D đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 83 và 83 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Đinh Thị Y được ly hôn anh Đinh Văn D. Về con chung đề nghị giao cả 02 con cho chị Đinh Thị Y là người được trực tiếp trông non, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Đinh Văn D chưa phải cấp dưỡng nuôi con nhưng có quyền thăm con, về tài sản chung, nợ chung hai bên đương sự đều công nhận không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không tiếp tục xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về tố tụng dân sự: Chị Đinh Thị Y có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện M giải quyết ly hôn anh Đinh Văn D, căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện M.

Quá trình giải quyết vụ kiện anh Đinh Văn D đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của các bên đương sự, cũng như đảm bảo về thời hạn tố tụng tòa án tiến hành xét xử vụ kiện là phù hợp với khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Tại phiên tòa hôm nay, chị Đinh Thị Y trình bày anh Đinh Văn D là người nghiện ma túy, không tu chí làm ăn, mắc nhiều tệ nạn xã hội. Ngoài ra anh Duẩn đang phải chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, đã sống ly thân nhau nên chị không còn tình cảm gì với anh Đinh Văn D. Từ đó cho thấy quan hệ hôn nhân giữa chị Yên và anh Duẩn không còn có sự thương yêu, quý trọng, chăm sóc giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình bền vững, ấm no, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Yên và anh Duẩn đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đinh Thị Y.

Về con chung: Chị Đinh Thị Y và anh Đinh Văn D có 02 con chung tên là Đinh Thị Hoài T, sinh ngày 02/5/2009 và Đinh Thành N, sinh ngày 17/5/2014. Chị Đinh Thị Y đề nghị được trực tiếp trông non, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con, chị chưa yêu cầu anh Đinh Văn D cấp dưỡng nuôi con. Xét điều kiện nuôi dưỡng của chị Đinh Thị Y và xem xét về nguyện vọng của con chưa thành niên, mặt khác hiện nay anh Đinh Văn D đang phải chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại trung tâm cai nghiện huyện L nên không có điều kiện để chăm nom, nuôi dưỡng con. Căn cứ vào Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử cần giao cho chị Đinh Thị Y là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con. Anh Đinh Văn D chưa phải cấp dưỡng nuôi con nhưng có quyền thăm con. Đối với nguyện vọng của anh Đinh Văn D đề nghị giải quyết để ông bà (là bố mẹ anh Duẩn) nuôi dưỡng cháu Đinh Thành N là không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đinh Thị Y và anh Đinh Văn D công

nhận không có nên Hội đồng xét xử không tiếp tục xem xét.

Về án phí: Chị Đinh Thị Y phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định

tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Về quyền kháng cáo: Theo quy định của Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 điều 228 ; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Khoản 2 Điều 81,Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của chị Đinh Thị Y.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đinh Thị Y được ly hôn anh Đinh Văn D.

2. Về con chung: Chị Đinh Thị Y là người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục Đinh Thị Hoài T, sinh ngày 02/5/2009 và Đinh Thành N, sinh ngày 17/5/2014 cho đến khi các con đủ 18 tuổi có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác. Anh Đinh Văn D chưa phải cấp dưỡng nuôi con nhưng có quyền thăm con.

3. Về án phí: Chị Đinh Thị Y phải nộp 300.000 đồng án phí dân sơ thẩm. Nhưng được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số: 0003618 ngày 20/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên tòa án tỉnh Hòa Binh để xét xử phúc thẩm. Người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo cùng thời hạn kể từ ngày nhận được bản án.

Cỡ chữ