vanban.org

Bản án 01/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Căn cứ chính? Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ - TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 03/01/2024
"V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ - TỈNH GIA LAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trịnh Thị Yến Ngọc.

Hội thẩm nhân dân: bà Trần Thị Bích Vân và bà Phạm Thị Hồng Cẩm.

Thư ký phiên tòa: bà Hồ Thị Ngọc Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hồng Phong - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 76/2023/TLST-HNGĐ ngày 09/10/2023 về việc“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/11/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1978;

Địa chỉ: thôn A, xã P, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Có mặt tại phiên tòa.

2. Bị đơn: Anh Huỳnh Văn T, sinh năm 1972;

Địa chỉ: thôn A, xã P, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1]. Theo đơn khởi kiện đề ngày 09/10/2023, bản tự khai, các biên bản hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn là chị Nguyễn Thị V trình bày: Chị và anh Huỳnh Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, đã tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện K (nay là UBND phường S, thị xã K), tỉnh Gia Lai vào ngày 21/7/1997.

Cuộc sống vợ chồng thực sự không có hạnh phúc, nguyên nhân là do vợ chồng không có tiếng nói chung, anh T hay uống rượu về chửi mắng và xúc phạm vợ nên hai bên thường xuyên cãi vã nhau. Vì con chị V đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh T vẫn không thay đổi nên tình cảm ngày càng lạnh nhạt, vợ chồng không còn quan tâm tới nhau nữa. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên vợ chồng ly thân nhau phần ai nấy sống từ tháng 09/2023.

Hôm nay chị V xét thấy thực sự không còn tình cảm với anh T nữa, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị và anh Huỳnh Văn T được ly hôn.

Về con chung: chị Nguyễn Thị V và anh Huỳnh Văn T có 03 con chung là Huỳnh Hữu M, sinh ngày 18/01/1999; Huỳnh Hữu N, sinh ngày 03/7/2000 và Huỳnh Hữu L, sinh ngày 14/9/2007, hiện nay hai con Huỳnh Hữu M và Huỳnh Hữu N đã trưởng thành và tự lập được, còn Huỳnh Hữu L đang sống với chị V. Khi ly hôn chị V yêu cầu Tòa án hỏi con ở với ai thì giao cho người đó.

Tại phiên tòa chị V yêu cầu được trực tiếp nuôi con Huỳnh Hữu L vì từ trước đến nay con sống gần gũi, tình cảm với chị hơn, nguyện vọng của cháu L muốn sống với mẹ. Hiện nay chị làm công việc lao động phổ thông có thu nhập ổn định trung bình mỗi tháng là 5.000.000đ (năm triệu đồng) nên đảm bảo lo đầy đủ cuộc sống của con, không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: chị Nguyễn Thị V không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: chị Nguyễn Thị V khai không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2]. Bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án nên không có lời khai trong hồ sơ vụ án và cũng không có văn bản trình bày ý kiến, yêu cầu gì.

[3]. Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 01/11/2023 và ngày 21/11/2023 các tài liệu do nguyên đơn cung cấp gồm: 01 Đơn khởi kiện đề ngày 09/10/2023; 01 Giấy chứng nhận kết hôn (Bản chính); 01 Căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị V (Bản sao chứng thực); 01 Căn cước công dân mang tên Huỳnh Văn T (Bản sao chứng thực); 01 trích lục cải chính hộ tịch ngày 17/01/2023; 01 Giấy khai sinh Huỳnh Hữu M (Bản sao chứng thực); 01 Giấy khai sinh Huỳnh Hữu N (Bản sao chứng thực); 01 Giấy khai sinh Huỳnh Hữu L (Bản sao chứng thực); 01 bản tự khai ngày 09/10/2023; 01 bản tự khai ngày 22/11/2023. Các tài liệu, chứng cứ do bị đơn cung cấp: Không. Các tài liệu do Tòa án thu thập: 01 Bản tự khai của cháu Huỳnh Hữu L; 01 Biên bản xác minh ngày 09/11/2023.

[4]. Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227; Điều 228; khoản 1 Điều 235, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 53, Điều 54; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình, xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị V, cho chị V được ly hôn với anh T. Về con chung: giao cho chị Nguyễn Thị V trực tiếp nuôi con Huỳnh Hữu L khi con chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình; chị V không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về án phí: Chị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: bị đơn là anh Huỳnh Văn T có nơi cư trú ở thôn A, xã P, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Vì vậy nguyên đơn là chị Nguyễn Thị V có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con là đúng thẩm quyền theo khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt lần thứ hai nên Tòa án căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị V và anh Huỳnh Văn T sống chung với nhau trên cơ sở tự nguyện, đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện K (nay là UBND phường S, thị xã K), tỉnh Gia Lai vào ngày 21/7/1997. Do đó quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị V và anh Huỳnh Văn T là hôn nhân hợp pháp.

[3]. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị V: chị V cho rằng cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã nhau, không có tiếng nói chung; anh T lại hay uống rượu, về nhà to tiếng với vợ nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Chị V đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng vợ chồng không thể hòa hợp. Vợ chồng ly thân nhau phần ai nấy sống, không còn quan tâm gì đến nhau từ tháng 9/2023 đến nay.

Hội đồng xét xử nhận thấy: giữa chị V và anh T không có sự cảm thông, chia sẻ với nhau nên dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng ly thân nhau. Trong thời gian Tòa án giải quyết đã nhiều lần triệu tập hợp lệ nhưng anh Huỳnh Văn T đều không đến nên không có lời khai về việc giải quyết vụ án. Như vậy thể hiện anh T đã bỏ mặc mọi việc đến đâu thì đến chứ không còn quan tâm gì đến cuộc sống vợ chồng với chị V nữa. Tình trạng hôn nhân giữa chị V và anh T như vậy là đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị V theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[4]. Về con chung: Nguyễn Thị V và anh Huỳnh Văn T có 03 con chung là Huỳnh Hữu M, sinh ngày 18/01/1999; Huỳnh Hữu N, sinh ngay 03/7/2000 và Huỳnh Hữu L, sinh ngày 14/9/2007, hiện nay hai con Huỳnh Hữu M và Huỳnh Hữu N đã trưởng thành và tự lập được, còn Huỳnh Hữu L đang sống với chị V.

Xét yêu cầu của chị V là giao cho chị được tiếp tục nuôi con cho đến lúc trưởng thành: Hội đồng xét xử nhận thấy từ trước đến nay con sống gần gũi với chị V hơn anh T, nguyện vọng của cháu L là muốn được tiếp tục sống với mẹ. Bản thân chị V có công ăn việc làm ổn định, đủ điều kiện chăm sóc, đảm bảo quyền lợi để con phát triển mọi mặt nên chấp nhận yêu cầu của chị V, giao cho chị V trực tiếp nuôi cháu L là phù hợp.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: chị V không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

[5]. Về tài sản chung: chị Nguyễn Thị V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[6]. Về nợ chung: chị Nguyễn Thị V khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[7]. Về án phí: Trong vụ án này chị Nguyễn Thị V phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 220; khoản 2 Điều 227; Điều 228; khoản 1 Điều 235; Điều 266; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 51; Điều 53; Điều 54; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị V. Chị Nguyễn Thị V được ly hôn với anh Huỳnh Văn T.

2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị V trực tiếp nuôi con chung là Huỳnh Hữu L, sinh ngày 14/9/2007 (như nguyện vọng của con) khi con chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Chị Nguyễn Thị V không yêu cầu anh Huỳnh Văn T phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Vì lợi ích của con, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng quyền thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Chị Nguyễn Thị V phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà chị V đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004087 ngày 09/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Chị V đã nộp đủ án phí.

4. Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (03/01/2024) đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn trên được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

5. Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

Cỡ chữ